Hướng dẫn ôn tập kiểm tra môn Ngữ Văn phần đọc hiểu học kì II năm học 2015-2016

10:03 |

I. MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CÂU HỎI ĐỌC HIỂU:
-         Phương thức biểu đạt?
-         Nội dung chính của bài/đoạn/ câu/hình ảnh?
-         Biện pháp tu từ?
-         Suy nghĩ về đoạn/câu/hình ảnh/từ ngữ,…

-         Đoạn/câu/hình ảnh/từ ngữ,…gợi cho anh/chị nhớ đến bài thơ, câu thơ, bài hát nào,…? do ai sáng tác?...
II. MỘT SỐ VĂN BẢN LÀM TƯ LIỆU ĐỌC HIỂU:
1.    VĂN BẢN 1:
Chương Khúc hát sông quê trích trong trường ca Thời gian khắc khoải
của Lê Huy Mậu

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che…
Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng chạp
Ôi! Phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể, mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành…
Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lươm mà thôi
lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng, ngọt bùi
ta và đất kết dao
lấy dòng sông làm lời thề non nước…
chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bôì rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta…
Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng…
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng ba…tháng năm… tháng chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng…
Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi- còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh…
Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm…
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!…

Nguồn trích: http://vanhaiphong.com/van-hai-phong-gioi-thieu/126-khuc-hat-song-que-le-huy-mu.html
--------------------
2.     VĂN BẢN 2:
               Lá đỏ
                                                Nguyễn Đình Thi
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường như quê hương
Vai ác bạc quàng súng trường.

Ðoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa.

Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn.

Em vẫy cười đôi mắt trong.

                            (Trường Sơn, 12/1974) 
Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
---------------------

3.     VĂN BẢN 3:
Trường Sơn đông, Trường Sơn tây
                                               Phạm Tiến Duật
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông
Nước khe cạn bướm bay lèn đá
Biết lòng anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.

Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.

Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.

Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
4.     VĂN BẢN 4:
Hương thầm


Khung cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ .
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa .

Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay ,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm ,
Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi ,
nào ai đã một lần dám nói ?

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin ,
Cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không dấu được cứ bay dịu nhẹ .

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu .

( Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấy ...)

Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
Hương thơm sẽ theo đi khắp

Họ chia tay
Vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi
                                                                                                  1969
Nguồn trích: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009

NỖI NIỀM THỊ NỞ - QUANG HUY

16:45 |
NỖI NIỀM THỊ NỞ - QUANG HUY  (Bài viết của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo).
Ngày mà tôi bước vào tuổi cập kê cũng là lúc trái tim biết rung lên những nhịp đập khác thường khi đối diện với người khác giới. Thời gian ấy tôi không được tiếp xúc với nền văn học lãng mạn. Mãi tới khi 19 tuổi, tôi lần đầu mới được đọc những tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng cũng chỉ là những bản chép tay chuyền nhau hiếm hoi.

Không biết bạn bè tôi thì sao? Riêng tôi đã chết mê chết mệt, anh Chàng Dũng- một người đàn ông sống có lý tưởng, có trách nhiệm với tình yêu cao cả: Tình yêu tổ quốc, tình yêu gia đình, bên cạnh mối tình sóng gió với cô gái tên Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh.
Giờ đây lý giải cho cái suy nghĩ lãng mạn của tôi ngày ấy. Không gì khác hơn là do đang tuổi mộng mơ, mà suốt ngày cặm cụi học: Chí Phèo, Tắt Đèn…. Nhưng từ sâu thẳm trong tôi lúc đó còn có thêm những trăn trở về vài cuộc tình trong văn học sử mà những lúc học ở trường, ít khi thầy cô giảng về tình yêu của những nhân vật ấy.
Nổi bật trong số đó là cuộc tình của Thị Nở và Chí Phèo. Trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn Nam cao.
Chí Phèo xuất hiện trong dòng văn học hiện thực phê phán năm 1941. Trong bối cảnh xã hội lúc ấy và cho đến mãi sau này. Mỗi khi có dịp nhắc đến nhân vật Chí Phèo thì từ già tới trẻ đều nói: Chí Phèo là tên nát rượu, chuyên rạch mặt ăn vạ, tứ cố vô thân. Thị Nở may mắn hơn Chí Phèo còn có bà Cô. Nhưng nói đến Thị Nở là ai cũng nghĩ ngay đến một người phụ nữ “ma chê quỷ hờn” vì xấu. Hai con người đại diện cho một tầng lớp những người cùng khổ thời bấy giờ. Họ đã gặp nhau và nảy sinh tình cảm.
Tôi đã nghĩ họ cũng có một tình yêu trong cuộc đời khốn cùng của họ. Niềm tin ấy được củng cố sau khi tôi được đọc bài thơ của nhà thơ Quang Huy viết về nỗi niềm của Thị Nở. Đọc bài thơ ấy tôi tìm thấy sự đồng cảm trong tứ thơ và tôi đã đi đến ý nghĩ muốn đồng hành với nhà thơ Quang Huy với cảm nhận của riêng tôi trong bài thơ:
Nỗi niềm Thị Nở
          Người ta cứ bảo dở hơi
          Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
          Dở hơi là dở hơi gì
          Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Làng này khối kẻ sợ anh
          Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
          Sợ anh chửi đổng suốt ngày
          Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Anh không nhà cửa bạc tiền
          Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
          Cái tên thơ mộng Chí Phèo
          Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Quần anh ống thấp ống cao
          Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
          Khen cho con tạo khéo tay
          Nồi này thì úp vung này chứ sao!
Đêm nay trời ở rất cao
          Sương thì đậm quá trăng sao lại nhòa
          Người ta… mặc kệ người ta
          Chỉ em rất thật đàn bà với anh!
Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
          Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm.
(1992, Quang Huy)
Nhà thơ Quang Huy sử dụng nguyên mẫu hai thân phận đại diện cho tầng lớp bần nông khốn cùng  của làng Vũ Đại đó là Chí phèo và Thị Nở của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo. Nhưng đưa vào thơ ca ông lại nhìn với góc nhìn từ trái tim người phụ nữ đời thường như bao con người khác. Chứ không phải  chỉ đơn thuần là một Thị Nở mà dung nhan khiến “ma chê quỷ hờn”.
Mở đầu bài thơ ông viết:
Người ta cứ bảo dở hơi
          Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
          Dở hơi là dở hơi gì
          Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Ngôn ngữ ông sử dụng rất bình dị như chính những điều mà ý thơ muốn chuyển tải đến bạn đọc. Từ khi Thị Nở xuất hiện trong văn học sử, bất cứ ai cũng nhìn thị ở khía cạnh người đàn bà xấu không có bút mực nào tả nổi. Nhà thơ không hề nhắc tới khía cạnh này, có lẽ ông chỉ muốn nói đến nội tâm của Thị. Người đời gọi Thị, bảo Thị là đồ “dở hơi”, Thị đâu có chấp. Bởi dẫu Thị thuộc hạng người “bần cùng” cũng vẫn hiểu rằng trong đời sống “lắm lời thị phi” mà đã là thị phi thì: “chấp chi”. Khi đã không chấp những lời thị phi thì đương nhiên Thị vui sống.Mặc chung quanh nghĩ gì? nói gì?
Nhưng sự tài tình của nhà thơ ở chỗ: Khi viết lời trả treo của chính Thị Nở kìa: “Dở hơi là dở hơi gì. Váy em sắn lệch nhiều khi cũng tình”. Thị Nở nhận mình trong bộ dạng váy sống “sắn lệch”, nhan sắc thì như người ta nói “ma chê quỷ hờn” nhưng vẫn thấy “Cũng tình”. Có lẽ Thị chỉ nhận ra nó từ đêm trăng trong vườn chuối Thị đang “nằm ngủ há hốc mồm ra”, nhưng Lại gặp được anh Chí Phèo….
Nhà thơ Quang Huy đã khắc họa ra một Nỗi Niềm Thị Nở mà không cần phải nói một câu nào về nhan sắc của Thị. Thị đã có “tình” bởi trong trái tim Thị giờ đây đã có bóng dáng một người. Mà người ấy theo Thị miêu tả thì:
Làng này khối kẻ sợ anh
          Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
          Sợ anh chửi đổng suốt ngày
          Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Vâng, cả làng Vũ Đại ngày ấy, và cả những ai quan tâm tới Nam Cao với Chí Phèo đều biết, hắn bị người sinh ra hắn bỏ rơi ở cái lò gạch hoang. Được anh bắt lươn nhặt về cho bà mù, bà mù bán hắn cho cha hắn, rồi cha hắn chết. Số phận đưa đẩy hắn tới bóp chân tay cho vợ Bá Kiến… Rồi biến hắn thành tên tù, rồi tên nát rượu. Hình ảnh hắn mỗi khi xuất hiện là tay cầm chai rượu, khi cần… hắn đập chai lấy mảnh rạch mặt ăn vạ….
Ở đây nhà thơ cho Chí Phèo oai phong hơn một chút so với khuôn mẫu. Chí Phèo có “Rượu be” và trên tay luôn có “mảnh sành” … Chí Phèo luôn luôn chửi đổng…. chửi bất kỳ ai! Chí Phèo chửi cả làng… “cả làng ai cũng sợ anh” phải chăng cũng xuất phát từ cái sự say xỉn “chửi đổng” và “mảnh sành” trên tay này chăng”..
Cả làng sợ anh. Chỉ mình Thị là ngoại lệ. Với Thị Nở, Thị đã cảm nhận được bản chất lương thiện trong con người của Chí Phèo nên Thị mới thổ lộ rằng: “Chỉ mình em biết anh say rất hiền.”
Thị Nở không chỉ thấy Chí Phèo rất hiền, mà với Thị thì Chí Phèo nghèo thật, nhưng Chí phèo của Thị thật cao cả, thật khí phách bởi:
Anh không nhà cửa bạc tiền
          Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
Có lẽ vì nhận ra bản chất tốt đẹp của người mà Thị yêu. Nên bây giờ Thị mới bắt đầu trút Nỗi Niềm từ trong gan ruột của Thị ra  được tác giả đặt vào khổ thơ tiếp:
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
          Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
          Quần anh ống thấp ống cao
          Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Ai cũng sợ Chí Phèo vậy mà Thị Nở chỉ nghĩ đến cái tên ấy thôi mà đã “đứt ruột mấy chiều bờ ao”. Phải chăng lúc này Chí Phèo đang đi “rạch mặt ăn vạ” ở đâu đó trong làng Vũ Đại. Để cho Thị Nở cô đơn một mình. Nên Thị thơ thẩn bên vườn chuối, bờ ao, là nơi mà Thị hay chốn bà cô ra ngủ và gặp được Chí Phèo từ nhà Tân lãng đi ra cái đêm trăng ấy.
Càng “đứt ruột” thì Thị lại càng nghĩ tới Chí Phèo, bây giờ thì hình ảnh người Thị yêu thương nhớ nhung đã hiển hiện trong trái tim Thị. Dẫu là hình ảnh “quần anh ống thấp ống cao” thì cũng quá đủ để “hồn vía” của Thị “nao nao đêm ngày”. Đúng là khi yêu trái tim luôn có lý lẽ riêng của nó thật. Thị Nở yêu cũng đâu có ngoại lệ.
Và rồi tác giả cũng đã lên tiếng với đôi “trai tài gái sắc” của làng Vũ Đại năm ấy:
Khen cho con tạo khéo tay
          Nồi này thì úp vung này chứ sao!
Với hai nhân vật chính “Xứng đôi vừa lứa” là Thị Nở và Chí Phèo thì có lẽ đây là những giây phút đẹp nhất trong đời của họ.
Đêm nay trời ở rất cao
          Sương thì đậm quá trăng sao lại nhòa
          Người ta… mặc kệ người ta
          Chỉ em rất thật đàn bà với anh!
          Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
          Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm.
(1992, Quang Huy)
Một lần nữa Thị Nở rút ruột mà nói ra nỗi lòng của kẻ đang yêu và được yêu. Trời đất cũng ủng hộ cho cuộc “mây mưa” của họ đêm nay “trời ở rất cao” không có gì phải ngại. “Sương thì đậm” sáng ra sẽ tan thành nước giúp phần xóa dấu tích của họ. “Trăng sao lại nhòa” đâu thể nhìn thấy hai người. “Còn người ta…” ngay lúc đầu Thị đã không ngần ngại mà khẳng khái rằng “chấp chi miệng lưỡi lắm lời thị phi ”thì bây giờ Thị còn sợ gì đâu mà chẳng“ “…mặc kệ người ta”… Thị khẳng định chắc nịch: “Chỉ em rất thật đàn bà với anh”.
Nhà Thơ Quang Huy đã để cho Nỗi Niềm Của Thị Nở kết ở nơi mà hai người gặp nhau, tìm đến nhau theo bản năng của con người. Nơi này cũng chính là xuất phát ra tình yêu của họ, chí ít cũng từ phía Thị Nở. Thị yêu, Thị “nao nao”, Thị thương Chí Phèo tới mức “Đứt ruột”. Và rồi đỉnh điểm của tình yêu chính là sự dâng hiến. Sau đêm nay…Thị đã không còn là con gái nữa, Thị đã trở thành “Đàn bà” người mà “rất thật với anh”. Dẫu Thị từ trong sâu thẳm vẫn nghĩ tới tiết hạnh của người con gái Á Đông đấy chứ! Vẫn biết đến “Tiết trinh đáng giá ngàn vàng” mà cả Thị và Người yêu Chí Phèo của Thị đều “nghèo rớt mồng tơi”. Nhưng có lẽ vì quá yêu nên lỡ trao rồi Thị chỉ còn biết thốt ra hai từ “thôi rồi”. Quả thật hai từ này nhà thơ Quang Huy dùng thật đáng giá, bởi có hai chữ “thôi rồi” bản chất của Thị Nở vẫn còn biết mình đã làm gì…? Và có lẽ cũng vì cái sự giật mình mà thốt ra hai chữ “thôi rồi” này, nên “Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm” hay chăng? Có lẽ thế bởi Chí Phèo ra đời cho tới nay hơn 70 năm, nhưng nói đến Thị Nở thì chưa ai phủ nhận tình cảm mà Thị trao cho Chí Phèo qua bát cháo hành giải cảm vào lúc gần sáng năm ấy! Và có lẽ nó sẽ còn được nhớ tới mãi mãi sau này.
Hai chữ “thôi rồi” mà Thị Nở thốt ra ở đây, tôi thấy phảng phất câu thơ cũng chính là nỗi lòng của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Nếu không có cái “giật mình” này Thúy Kiều cũng chẳng khác gì các cô gái “lầu xanh” khác!
Cám ơn nhà Thơ Quang Huy với bài thơ Nỗi Niềm Thị Nở đã cho tôi có dịp đồng hành với một góc nhìn rất nhân văn của tác giả về hai thân phận con người cùng khổ của xã hội thời phong kiến vào những thập niên đầu của Thế kỷ 20. Dẫu cho họ xấu tới mức nào, nghèo đói ra sao, họ đã phải làm những việc xấu xa “rạch mặt ăn vạ… cuộc đời đã xô đẩy họ đến chỗ cùng đường… Nhưng tình yêu, tình cảm của họ trao cho nhau đáng để ta phải suy ngẫm.
Sài Gòn 19/3/2014

Giới hạn nội dung ôn tập cho thi học kì II

16:40 |

1.     Tiếng Việt, Làm văn, Lý luận văn học:
-         Các nội dung về từ ngữ, ngữ pháp để đọc hiểu văn bản văn học
-         Các kĩ năng văn nghị luận
-         Các thuật ngữ, nội dung lý luận trong các bài học
2.     Văn học:
-         Vợ nhặt của Kim Lân
     -   Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
-         Sóng của Xuân Quỳnh
-         Đất Nước trích Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
-         Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy
-         Hỏi của Hữu Thỉnh
III. Cấu trúc, mức độ và dạng hỏi
          1. Cấu trúc, thời gian
                    - Bao gồm ba câu:
                       + Câu 1 (2,0 điểm):
                       + Câu 2 (3,0 điểm)
    + Câu 3 (5,0 điểm):
          - Thời gian: 120 phút.

2. Mức độ
                    - Kết hợp giữa các mức độ biết – hiểu – vận dụng
                   - Ưu tiên câu hỏi vận dụng, vận dụng sáng tạo
3.     Dạng hỏi
- Câu 1: Đọc hiểu (có thể kết hợp trắc nghiệm khách quan).
         + Trả lời các câu hỏi về từ ngữ, nội dung chính, các biện pháp    tu từ, các phương thức biểu đạt.
         + Viết đoạn văn ngắn (5-7 câu) theo yêu cầu của câu hỏi: giải thích, suy nghĩ, bình luận,…
     - Câu 2: Nghị luận xã hội
         + Nghị luận về tư tưởng đạo lý (những vấn đề gần gũi với HS)
     - Câu 3: Nghị luận văn học
+ Bày tỏ ý kiến, quan điểm,…
+ Làm sáng tỏ, đánh giá  vấn đề, ý nghĩa vấn đề,…
          + Cách so sánh vấn đề
          IV. Giới hạn
1.     Học sinh Dự bị
- Vợ nhặt của Kim Lân
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
- Sóng của Xuân Quỳnh
- Đất Nước trích Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
          - Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy
- Hỏi của Hữu Thỉnh
2.     Học sinh Hệ gửi
- Vợ nhặt của Kim Lân
- Sóng của Xuân Quỳnh
- Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy

- Hỏi của Hữu Thỉnh
Nhóm chuyên môn Ngữ văn

Một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn chuẩn bị cho kiểm tra đình kì 4

19:56 |

I. Tác phẩm Vợ nhặt - Kim Lân:
Câu 1: Tràng đã mời thị ăn món gì trong lần gặp đầu lần thứ 2?


A. Bánh chưng
B. Bánh rán
C. Bánh đúc
D.Bánh khoai


Câu 2: Âm thanh nào đã xuất hiện trong đêm tân hôn của Tràng?
A. Tiếng quạ
B. Tiếng sáo
C. Tiếng chúc mừng
D. Tiếng khóc hờ của gia đình có người chết
Câu 3: Thái độ của bà cụ Tứ khi Tràng giới thiệu thị với bà?
A. Khinh bỉ
B, Lạnh lùng
C. Cảm thông, chấp nhận bằng sự thương xót
D. Không chấp nhận
Câu 4: Kết thúc tác phẩm Vợ nhặt là hình ảnh nào?


A. Bát cháo cám
B. Đám người đói và lá cờ đỏ
C. Tiếng trống sưu thuế
D. Tiếng quạ



Câu 5 : Tràng đã mua  một thứ đáng giá 2 hào cho đêm tân hôn của mình. Đó là:


A. Dầu để thắp sáng
B. Trầu cau
C. Cặp gối
D. Bình rượu


Câu 6: Nghệ thuật đặc sắc nhất được Kim Lân sử dụng trong tác phẩm Vợ nhặt là:
A. Nghệ thuật trần thuật
B. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
C. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo
D. Nghệ thuật tả cảnh
Câu 7: Ông là nhà văn một lòng đi về với “đất”, “với người” với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn. Ông là ai?
A. Nam Cao.         B. Tô Hoài.           C. Kim Lân.          D. Nguyễn Thi.
Câu 8: Chè khoán trong câu nói của bà cụ Tứ là gì?
A. Cháo hoa.          B. Cháo cám.           C. Cháo sắn.          D. Cháo ngô.
Câu 9: Trong câu văn: Người chết như ngả rạ nhà văn Kim Lân đã sử dụng nghệ thuật gì?
A. Ẩn dụ.         B. Nhân hóa           C. So sánh.        D. Hoán dụ.

II. Tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài:
Câu 1: Thân phận con dâu gạt nợ cho nhà thống lí của Mị được so sánh với:


A. Con trâu
B. Con ngựa
C. Con rùa
D. Cả A,B,C


Câu 2: Trong đêm tình mùa xuân âm thanh nào được xuất hiện nhiều lần và tác động đến tâm trạng của Mị?


A. Tiếng sáo
B. Tiếng chiêng
C. Tiếng khèn
D. Tiếng khóc


Câu 3: Nét nghệ thuật đặc sắc của Tô Hoài khi xây dựng nhân vật Mị là:
A. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
B. Nghệ thuật miêu tả tâm lí, hành động nhân vật
C. Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật
D. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật
Câu 4: Điền từ còn thiếu vào câu văn sau: “ Mị chỉ thì thào được một tiếng….” (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)


A. Đi ngay
B. Đi mau
C. Đi nhanh
D. Đi thôi


Câu 5: Hàng năm nhà Mị phải trả lãi cho nhà thống lí mấy nương ngô?
A. 1                      B. 2                   C. 3                     D. 4
Câu 6: Trong Vợ chồng A Phủ, Mị đã định ăn lá ngón tự tử mấy lần?  
A. 1                      B. 2                   C. 3                     D. 4
Câu 7: Những thế lực tội ác nào đã được Tô Hoài đề cập đến trong những câu văn sau: Chúng nó ác quá…Ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…   
A.  Thần quyền.       B. Thực dân Pháp.    C. Chúa đất, thần quyền.   
 Câu 8: Yếu tố nào sau đây có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự thức tỉnh của tâm hồn Mị trong đêm mùa xuân ở Hồng Ngài?
A. Màu sắc sặc sỡ của váy áo phơi trên những mỏm đá đầu làng
B. Tiếng trẻ con đợi tết, chơi quay cười ầm trước sân nhà
C. Tiếng sáo gọi bạn tình nơi đầu núi
D. Những bát rượu uống bên bếp lửa

III. Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
Câu 1 : Phóng viên Phùng đã chụp được “ cảnh đắt trời cho” vào thời điểm nào trong ngày?


A. Sáng sớm
B. Trưa
C. Chiều tối
D. Đem khuya


Câu 2: Trong cuộc đời mình, người đàn bà hàng chài vui nhất khi nào?
A. Khi không bị chồng đánh
B. Khi có nhiều tiền
C. Khi ngồi nhìn đàn con được ăn no
D. Khi được lên bờ sinh sống
Câu 3: Trong Chiếc thuyền ngoài xa người đàn ông đã dùng vật gì để đánh người đàn bà?
A. Dép
B. Gậy
C. Chổi
D. Thắt lưng thời Ngụy
Câu 4: Vì sao nếu nhìn lâu hơn bao giờ nhân vật “tôi” cũng thấy người đàn bà hàng chài bước ra từ tấm ảnh?
A. Vì nhìn lâu quá người ta dễ bị ảo giác
B. Vì bức ảnh chụp người đàn bà hàng chài đang bước đi
C. Vì trái tim, tâm hồn người nghệ sĩ chân chính luôn hướng về con người, nhất là những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh.
D. Vì nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi trước thân phận của một người vợ, người mẹ lam lũ, đau khổ.
Câu 5: Nội dung nào sau đây không phải là thông điệp mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi tới độc giả qua chuyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?
A. Người nghệ sĩ phải đảm nhận xứ mệnh lên tiếng nói vì quyền sống của con người nhất là những kiếp người lầm than, đau khổ
B. Hãy bằng lòng với những khám phá của mình vì cuộc sống vốn phong phú, phức tạp
 C. Cần phải nhận biết cuộc sống bằng cái nhìn nhiều chiều, biết nhìn thấu con người ở bên trong con người
D. Không nên nhìn cuộc sống từ khoảng cách xa, từ những hiện tượng bề ngoài.
Biên soạn: P.L 


Hướng dẫn ôn tập văn kiểm tra định kì 4 - Tác phẩm Vợ chồng A Phủ

19:49 |
I/ Câu hỏi tự luận:
Có những giọt nước mắt làm xúc động lòng người trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài.
(Cảm nhận về những giọt nước mắt trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ).


MỘT SỐ GỢI Ý

1. Khái quát:
- Vài nét về tác phẩm (hoàn cảnh ra đời, vị trí, xuất xứ tác phẩm)
- Chi tiết giọt nước mắt xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm làm xúc động lòng người, góp phần quan trọng thể hiện tâm lí nhân vật, tư tưởng tác phẩm và điển hình cho nghệ thuật của Tô Hoài.

2. Cảm nhận:
a. Nêu chi tiết:
Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, hình ảnh giọt nước mắt nhiều lần xuất hiện gắn liền với tình cảnh éo le của hai nhân vật Mị và A Phủ:
- Khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra, có tới hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc.
- Mị bỏ trốn về nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe…nức nở. Nghe lời của cha, Mị chỉ bưng mặt khóc.
- Đêm mùa xuân, Mị bị A Sử trí đứng vào cột. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được.
- Đêm mùa đông, Mị trở dậy thổi lửa. Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại.
b. Ý nghĩa nội dung và nghệ thuật.
- Nội dung
+ Phản ánh tình cảnh éo le, ngang trái, số phận cùng khổ, bất hạnh của Mị và A Phủ.
+ Thể hiện sâu sắc sức sống tiềm tàng, tinh thần phản kháng, khát vọng sống của các nhân vật.
+  Góp phần thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
- Nghệ thuật
  Là những chi tiết quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sắc nét thế giới nội tâm, diễn biến tâm lí của nhân vật.

3. Đánh giá:
- Giọt nước mắt của Mị và A Phủ để lại trong lòng đôc giả những ấn tượng sâu sắc, khơi dậy lòng thương, sự cảm thông trân trọng với số phận bất hạnh của con người.
- Trong những tình cảnh éo le, bất hạnh, mỗi người trong chúng ta không được đánh mất niềm tin, khát vọng sống của bản thân. 

II/ Câu hỏi trắc nghiệm.
Trả lời các câu hỏi sau bằng cách lựa chọn đáp án đúng:
1.     Ông là nhà văn một lòng đi về với “đất”, “với người” với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn. Ông là ai?
A. Nam Cao.         B. Tô Hoài.           C. Kim Lân.          D. Nguyễn Thi.
2.     Chè khoán trong câu nói của bà cụ Tứ là gì?
A. Cháo hoa.          B. Cháo cám.           C. Cháo sắn.          D. Cháo ngô.
3.  Trong câu văn: Người chết như ngả rạ nhà văn Kim Lân đã sử dụng nghệ thuật gì?
A. Ẩn dụ.         B. Nhân hóa           C. So sánh.        D. Hoán dụ.
4. Những thế lực tội ác nào đã được Tô Hoài đề cập đến trong những câu văn sau: Chúng nó ác quá…Ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…   
A.  Thần quyền.       B. Thực dân Pháp.    C. Chúa đất, thần quyền.   
 Biên soạn: N.H



Bài nổi bật

Được tạo bởi Blogger.