NỖI NIỀM THỊ NỞ - QUANG HUY

16:45 |
NỖI NIỀM THỊ NỞ - QUANG HUY  (Bài viết của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo).
Ngày mà tôi bước vào tuổi cập kê cũng là lúc trái tim biết rung lên những nhịp đập khác thường khi đối diện với người khác giới. Thời gian ấy tôi không được tiếp xúc với nền văn học lãng mạn. Mãi tới khi 19 tuổi, tôi lần đầu mới được đọc những tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng cũng chỉ là những bản chép tay chuyền nhau hiếm hoi.

Không biết bạn bè tôi thì sao? Riêng tôi đã chết mê chết mệt, anh Chàng Dũng- một người đàn ông sống có lý tưởng, có trách nhiệm với tình yêu cao cả: Tình yêu tổ quốc, tình yêu gia đình, bên cạnh mối tình sóng gió với cô gái tên Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh.
Giờ đây lý giải cho cái suy nghĩ lãng mạn của tôi ngày ấy. Không gì khác hơn là do đang tuổi mộng mơ, mà suốt ngày cặm cụi học: Chí Phèo, Tắt Đèn…. Nhưng từ sâu thẳm trong tôi lúc đó còn có thêm những trăn trở về vài cuộc tình trong văn học sử mà những lúc học ở trường, ít khi thầy cô giảng về tình yêu của những nhân vật ấy.
Nổi bật trong số đó là cuộc tình của Thị Nở và Chí Phèo. Trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn Nam cao.
Chí Phèo xuất hiện trong dòng văn học hiện thực phê phán năm 1941. Trong bối cảnh xã hội lúc ấy và cho đến mãi sau này. Mỗi khi có dịp nhắc đến nhân vật Chí Phèo thì từ già tới trẻ đều nói: Chí Phèo là tên nát rượu, chuyên rạch mặt ăn vạ, tứ cố vô thân. Thị Nở may mắn hơn Chí Phèo còn có bà Cô. Nhưng nói đến Thị Nở là ai cũng nghĩ ngay đến một người phụ nữ “ma chê quỷ hờn” vì xấu. Hai con người đại diện cho một tầng lớp những người cùng khổ thời bấy giờ. Họ đã gặp nhau và nảy sinh tình cảm.
Tôi đã nghĩ họ cũng có một tình yêu trong cuộc đời khốn cùng của họ. Niềm tin ấy được củng cố sau khi tôi được đọc bài thơ của nhà thơ Quang Huy viết về nỗi niềm của Thị Nở. Đọc bài thơ ấy tôi tìm thấy sự đồng cảm trong tứ thơ và tôi đã đi đến ý nghĩ muốn đồng hành với nhà thơ Quang Huy với cảm nhận của riêng tôi trong bài thơ:
Nỗi niềm Thị Nở
          Người ta cứ bảo dở hơi
          Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
          Dở hơi là dở hơi gì
          Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Làng này khối kẻ sợ anh
          Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
          Sợ anh chửi đổng suốt ngày
          Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Anh không nhà cửa bạc tiền
          Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
          Cái tên thơ mộng Chí Phèo
          Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Quần anh ống thấp ống cao
          Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
          Khen cho con tạo khéo tay
          Nồi này thì úp vung này chứ sao!
Đêm nay trời ở rất cao
          Sương thì đậm quá trăng sao lại nhòa
          Người ta… mặc kệ người ta
          Chỉ em rất thật đàn bà với anh!
Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
          Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm.
(1992, Quang Huy)
Nhà thơ Quang Huy sử dụng nguyên mẫu hai thân phận đại diện cho tầng lớp bần nông khốn cùng  của làng Vũ Đại đó là Chí phèo và Thị Nở của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo. Nhưng đưa vào thơ ca ông lại nhìn với góc nhìn từ trái tim người phụ nữ đời thường như bao con người khác. Chứ không phải  chỉ đơn thuần là một Thị Nở mà dung nhan khiến “ma chê quỷ hờn”.
Mở đầu bài thơ ông viết:
Người ta cứ bảo dở hơi
          Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
          Dở hơi là dở hơi gì
          Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Ngôn ngữ ông sử dụng rất bình dị như chính những điều mà ý thơ muốn chuyển tải đến bạn đọc. Từ khi Thị Nở xuất hiện trong văn học sử, bất cứ ai cũng nhìn thị ở khía cạnh người đàn bà xấu không có bút mực nào tả nổi. Nhà thơ không hề nhắc tới khía cạnh này, có lẽ ông chỉ muốn nói đến nội tâm của Thị. Người đời gọi Thị, bảo Thị là đồ “dở hơi”, Thị đâu có chấp. Bởi dẫu Thị thuộc hạng người “bần cùng” cũng vẫn hiểu rằng trong đời sống “lắm lời thị phi” mà đã là thị phi thì: “chấp chi”. Khi đã không chấp những lời thị phi thì đương nhiên Thị vui sống.Mặc chung quanh nghĩ gì? nói gì?
Nhưng sự tài tình của nhà thơ ở chỗ: Khi viết lời trả treo của chính Thị Nở kìa: “Dở hơi là dở hơi gì. Váy em sắn lệch nhiều khi cũng tình”. Thị Nở nhận mình trong bộ dạng váy sống “sắn lệch”, nhan sắc thì như người ta nói “ma chê quỷ hờn” nhưng vẫn thấy “Cũng tình”. Có lẽ Thị chỉ nhận ra nó từ đêm trăng trong vườn chuối Thị đang “nằm ngủ há hốc mồm ra”, nhưng Lại gặp được anh Chí Phèo….
Nhà thơ Quang Huy đã khắc họa ra một Nỗi Niềm Thị Nở mà không cần phải nói một câu nào về nhan sắc của Thị. Thị đã có “tình” bởi trong trái tim Thị giờ đây đã có bóng dáng một người. Mà người ấy theo Thị miêu tả thì:
Làng này khối kẻ sợ anh
          Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
          Sợ anh chửi đổng suốt ngày
          Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Vâng, cả làng Vũ Đại ngày ấy, và cả những ai quan tâm tới Nam Cao với Chí Phèo đều biết, hắn bị người sinh ra hắn bỏ rơi ở cái lò gạch hoang. Được anh bắt lươn nhặt về cho bà mù, bà mù bán hắn cho cha hắn, rồi cha hắn chết. Số phận đưa đẩy hắn tới bóp chân tay cho vợ Bá Kiến… Rồi biến hắn thành tên tù, rồi tên nát rượu. Hình ảnh hắn mỗi khi xuất hiện là tay cầm chai rượu, khi cần… hắn đập chai lấy mảnh rạch mặt ăn vạ….
Ở đây nhà thơ cho Chí Phèo oai phong hơn một chút so với khuôn mẫu. Chí Phèo có “Rượu be” và trên tay luôn có “mảnh sành” … Chí Phèo luôn luôn chửi đổng…. chửi bất kỳ ai! Chí Phèo chửi cả làng… “cả làng ai cũng sợ anh” phải chăng cũng xuất phát từ cái sự say xỉn “chửi đổng” và “mảnh sành” trên tay này chăng”..
Cả làng sợ anh. Chỉ mình Thị là ngoại lệ. Với Thị Nở, Thị đã cảm nhận được bản chất lương thiện trong con người của Chí Phèo nên Thị mới thổ lộ rằng: “Chỉ mình em biết anh say rất hiền.”
Thị Nở không chỉ thấy Chí Phèo rất hiền, mà với Thị thì Chí Phèo nghèo thật, nhưng Chí phèo của Thị thật cao cả, thật khí phách bởi:
Anh không nhà cửa bạc tiền
          Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
Có lẽ vì nhận ra bản chất tốt đẹp của người mà Thị yêu. Nên bây giờ Thị mới bắt đầu trút Nỗi Niềm từ trong gan ruột của Thị ra  được tác giả đặt vào khổ thơ tiếp:
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
          Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
          Quần anh ống thấp ống cao
          Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Ai cũng sợ Chí Phèo vậy mà Thị Nở chỉ nghĩ đến cái tên ấy thôi mà đã “đứt ruột mấy chiều bờ ao”. Phải chăng lúc này Chí Phèo đang đi “rạch mặt ăn vạ” ở đâu đó trong làng Vũ Đại. Để cho Thị Nở cô đơn một mình. Nên Thị thơ thẩn bên vườn chuối, bờ ao, là nơi mà Thị hay chốn bà cô ra ngủ và gặp được Chí Phèo từ nhà Tân lãng đi ra cái đêm trăng ấy.
Càng “đứt ruột” thì Thị lại càng nghĩ tới Chí Phèo, bây giờ thì hình ảnh người Thị yêu thương nhớ nhung đã hiển hiện trong trái tim Thị. Dẫu là hình ảnh “quần anh ống thấp ống cao” thì cũng quá đủ để “hồn vía” của Thị “nao nao đêm ngày”. Đúng là khi yêu trái tim luôn có lý lẽ riêng của nó thật. Thị Nở yêu cũng đâu có ngoại lệ.
Và rồi tác giả cũng đã lên tiếng với đôi “trai tài gái sắc” của làng Vũ Đại năm ấy:
Khen cho con tạo khéo tay
          Nồi này thì úp vung này chứ sao!
Với hai nhân vật chính “Xứng đôi vừa lứa” là Thị Nở và Chí Phèo thì có lẽ đây là những giây phút đẹp nhất trong đời của họ.
Đêm nay trời ở rất cao
          Sương thì đậm quá trăng sao lại nhòa
          Người ta… mặc kệ người ta
          Chỉ em rất thật đàn bà với anh!
          Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
          Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm.
(1992, Quang Huy)
Một lần nữa Thị Nở rút ruột mà nói ra nỗi lòng của kẻ đang yêu và được yêu. Trời đất cũng ủng hộ cho cuộc “mây mưa” của họ đêm nay “trời ở rất cao” không có gì phải ngại. “Sương thì đậm” sáng ra sẽ tan thành nước giúp phần xóa dấu tích của họ. “Trăng sao lại nhòa” đâu thể nhìn thấy hai người. “Còn người ta…” ngay lúc đầu Thị đã không ngần ngại mà khẳng khái rằng “chấp chi miệng lưỡi lắm lời thị phi ”thì bây giờ Thị còn sợ gì đâu mà chẳng“ “…mặc kệ người ta”… Thị khẳng định chắc nịch: “Chỉ em rất thật đàn bà với anh”.
Nhà Thơ Quang Huy đã để cho Nỗi Niềm Của Thị Nở kết ở nơi mà hai người gặp nhau, tìm đến nhau theo bản năng của con người. Nơi này cũng chính là xuất phát ra tình yêu của họ, chí ít cũng từ phía Thị Nở. Thị yêu, Thị “nao nao”, Thị thương Chí Phèo tới mức “Đứt ruột”. Và rồi đỉnh điểm của tình yêu chính là sự dâng hiến. Sau đêm nay…Thị đã không còn là con gái nữa, Thị đã trở thành “Đàn bà” người mà “rất thật với anh”. Dẫu Thị từ trong sâu thẳm vẫn nghĩ tới tiết hạnh của người con gái Á Đông đấy chứ! Vẫn biết đến “Tiết trinh đáng giá ngàn vàng” mà cả Thị và Người yêu Chí Phèo của Thị đều “nghèo rớt mồng tơi”. Nhưng có lẽ vì quá yêu nên lỡ trao rồi Thị chỉ còn biết thốt ra hai từ “thôi rồi”. Quả thật hai từ này nhà thơ Quang Huy dùng thật đáng giá, bởi có hai chữ “thôi rồi” bản chất của Thị Nở vẫn còn biết mình đã làm gì…? Và có lẽ cũng vì cái sự giật mình mà thốt ra hai chữ “thôi rồi” này, nên “Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm” hay chăng? Có lẽ thế bởi Chí Phèo ra đời cho tới nay hơn 70 năm, nhưng nói đến Thị Nở thì chưa ai phủ nhận tình cảm mà Thị trao cho Chí Phèo qua bát cháo hành giải cảm vào lúc gần sáng năm ấy! Và có lẽ nó sẽ còn được nhớ tới mãi mãi sau này.
Hai chữ “thôi rồi” mà Thị Nở thốt ra ở đây, tôi thấy phảng phất câu thơ cũng chính là nỗi lòng của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Nếu không có cái “giật mình” này Thúy Kiều cũng chẳng khác gì các cô gái “lầu xanh” khác!
Cám ơn nhà Thơ Quang Huy với bài thơ Nỗi Niềm Thị Nở đã cho tôi có dịp đồng hành với một góc nhìn rất nhân văn của tác giả về hai thân phận con người cùng khổ của xã hội thời phong kiến vào những thập niên đầu của Thế kỷ 20. Dẫu cho họ xấu tới mức nào, nghèo đói ra sao, họ đã phải làm những việc xấu xa “rạch mặt ăn vạ… cuộc đời đã xô đẩy họ đến chỗ cùng đường… Nhưng tình yêu, tình cảm của họ trao cho nhau đáng để ta phải suy ngẫm.
Sài Gòn 19/3/2014

Nhân đọc một bài thơ của Hữu Thỉnh Trần Vấn Lệ

16:42 |

“Tôi hỏi Người: Người sống với nhau như thế nào?
Tôi hỏi Người: Người sống với nhau như thế nào?
Tôi hỏi Người: Người sống với nhau như thế nào?”
Hữu Thỉnh có một bài thơ.(*)
Tựa đề là Hỏi.
Bài thơ có Chín câu.
Câu đầu hỏi Đất.
Câu thứ Hai, Đất trả lời
Câu thứ Ba, hỏi Nước.
Câu thứ Tư, Nước trả lời.
Câu thứ Năm, hỏi Cỏ.
Câu thứ Sáu, Cỏ trả lời.
Câu Thứ Bảy, Thứ Tám, thứ Chín, hỏi Người.
Không có câu thứ Mười.
Không có câu trả lời.

Bài thơ đó nhiều người đọc, khen.
Không ai dám chê.
Mà không nên chê.
Chuyện bình thường nếu không có bài thơ đó.
Chuyện cũng bình thương thôi khi không ai dám chê.
Bởi, coi như không có gì cả.
Đó, là chuyện không lạ.
Bởi chuyện xã hội chủ nghĩa nào mà thi sĩ viết ra cũng đều quen.
Có điều không dễ gì quen tác giả.
Ngay Hoàng Cầm khi nói về chiếc lá.
Tác giả đâu có biết lá nào là Lá Diêu Bông!
Hoàng Cầm ngông? Cứ nghĩ là Hoàng Cầm ngông!
Khi Hữu Thỉnh hỏi Người, người nào tác giả đã hỏi?
Nếu ta quen tác giả
Hỏi chớ Người là Ai?
Chắc chắn tác giả cười…
Trái đất có sáu bảy tỉ con người
Viết chữ thường còn không ai biết ai
Viết chữ hoa, tìm hoài vô vọng!
Trong đời sống, không ai muốn chết chung.
Sống đối xử với nhau thế nào
Trả lời sao cho phải?
Đinh Hùng có thơ hay hết biết:
Đi bên nhau không phải là Đôi Vợ Chồng
Tay cầm tay không phải là Đôi Tình Nhân
Hỏi làm chi mà ngại ngùng nếu đáp?
Cõi Vô Thường, cái ngáp cũng nên thơ!
Sông chảy cùng nhau còn có hai bờ
Núi chung một dãy có ngọn cao ngọn thấp.
Chúng ta sống phải có ngăn có nắp
Ai hỏi gì ta, ta quay mặt làm lơ!
Cảm ơn Hữu Thỉnh có bài thơ
Không cần câu trả lời nào cuối cùng là cần thiết.
Điều kiện Đủ thấy rõ ràng khi chết:
“Cõi Con Người Là Một Cõi Trống Không”
Đất tôn nhau. Nước làm đầy nhau. Cỏ đan vào nhau.
Người xa nhau…
Coi như chim xa rừng…
Câu trả lời về Người, cuối cùng, là đó!


 (*) Nguyên văn bài thơ của Hữu Thỉnh
Biên soạn: B.T.D

Giới hạn nội dung ôn tập cho thi học kì II

16:40 |

1.     Tiếng Việt, Làm văn, Lý luận văn học:
-         Các nội dung về từ ngữ, ngữ pháp để đọc hiểu văn bản văn học
-         Các kĩ năng văn nghị luận
-         Các thuật ngữ, nội dung lý luận trong các bài học
2.     Văn học:
-         Vợ nhặt của Kim Lân
     -   Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
-         Sóng của Xuân Quỳnh
-         Đất Nước trích Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
-         Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy
-         Hỏi của Hữu Thỉnh
III. Cấu trúc, mức độ và dạng hỏi
          1. Cấu trúc, thời gian
                    - Bao gồm ba câu:
                       + Câu 1 (2,0 điểm):
                       + Câu 2 (3,0 điểm)
    + Câu 3 (5,0 điểm):
          - Thời gian: 120 phút.

2. Mức độ
                    - Kết hợp giữa các mức độ biết – hiểu – vận dụng
                   - Ưu tiên câu hỏi vận dụng, vận dụng sáng tạo
3.     Dạng hỏi
- Câu 1: Đọc hiểu (có thể kết hợp trắc nghiệm khách quan).
         + Trả lời các câu hỏi về từ ngữ, nội dung chính, các biện pháp    tu từ, các phương thức biểu đạt.
         + Viết đoạn văn ngắn (5-7 câu) theo yêu cầu của câu hỏi: giải thích, suy nghĩ, bình luận,…
     - Câu 2: Nghị luận xã hội
         + Nghị luận về tư tưởng đạo lý (những vấn đề gần gũi với HS)
     - Câu 3: Nghị luận văn học
+ Bày tỏ ý kiến, quan điểm,…
+ Làm sáng tỏ, đánh giá  vấn đề, ý nghĩa vấn đề,…
          + Cách so sánh vấn đề
          IV. Giới hạn
1.     Học sinh Dự bị
- Vợ nhặt của Kim Lân
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
- Sóng của Xuân Quỳnh
- Đất Nước trích Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
          - Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy
- Hỏi của Hữu Thỉnh
2.     Học sinh Hệ gửi
- Vợ nhặt của Kim Lân
- Sóng của Xuân Quỳnh
- Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy

- Hỏi của Hữu Thỉnh
Nhóm chuyên môn Ngữ văn

Thông báo về việc ra hạn nộp bài thi viết văn theo chủ đề

02:34 |
Cuộc thi viết Văn theo chủ đề, thời gian nộp bài về cho ban tổ chức đến 16h thứ 4 ngày 20/5/2015.

Đề bài: Có những giọt nước mắt đã chảy làm xúc động lòng người trong ba tác phẩm: Vợ nhặt của Kim Lân, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

Một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn chuẩn bị cho kiểm tra đình kì 4

19:56 |

I. Tác phẩm Vợ nhặt - Kim Lân:
Câu 1: Tràng đã mời thị ăn món gì trong lần gặp đầu lần thứ 2?


A. Bánh chưng
B. Bánh rán
C. Bánh đúc
D.Bánh khoai


Câu 2: Âm thanh nào đã xuất hiện trong đêm tân hôn của Tràng?
A. Tiếng quạ
B. Tiếng sáo
C. Tiếng chúc mừng
D. Tiếng khóc hờ của gia đình có người chết
Câu 3: Thái độ của bà cụ Tứ khi Tràng giới thiệu thị với bà?
A. Khinh bỉ
B, Lạnh lùng
C. Cảm thông, chấp nhận bằng sự thương xót
D. Không chấp nhận
Câu 4: Kết thúc tác phẩm Vợ nhặt là hình ảnh nào?


A. Bát cháo cám
B. Đám người đói và lá cờ đỏ
C. Tiếng trống sưu thuế
D. Tiếng quạ



Câu 5 : Tràng đã mua  một thứ đáng giá 2 hào cho đêm tân hôn của mình. Đó là:


A. Dầu để thắp sáng
B. Trầu cau
C. Cặp gối
D. Bình rượu


Câu 6: Nghệ thuật đặc sắc nhất được Kim Lân sử dụng trong tác phẩm Vợ nhặt là:
A. Nghệ thuật trần thuật
B. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
C. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo
D. Nghệ thuật tả cảnh
Câu 7: Ông là nhà văn một lòng đi về với “đất”, “với người” với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn. Ông là ai?
A. Nam Cao.         B. Tô Hoài.           C. Kim Lân.          D. Nguyễn Thi.
Câu 8: Chè khoán trong câu nói của bà cụ Tứ là gì?
A. Cháo hoa.          B. Cháo cám.           C. Cháo sắn.          D. Cháo ngô.
Câu 9: Trong câu văn: Người chết như ngả rạ nhà văn Kim Lân đã sử dụng nghệ thuật gì?
A. Ẩn dụ.         B. Nhân hóa           C. So sánh.        D. Hoán dụ.

II. Tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài:
Câu 1: Thân phận con dâu gạt nợ cho nhà thống lí của Mị được so sánh với:


A. Con trâu
B. Con ngựa
C. Con rùa
D. Cả A,B,C


Câu 2: Trong đêm tình mùa xuân âm thanh nào được xuất hiện nhiều lần và tác động đến tâm trạng của Mị?


A. Tiếng sáo
B. Tiếng chiêng
C. Tiếng khèn
D. Tiếng khóc


Câu 3: Nét nghệ thuật đặc sắc của Tô Hoài khi xây dựng nhân vật Mị là:
A. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
B. Nghệ thuật miêu tả tâm lí, hành động nhân vật
C. Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật
D. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật
Câu 4: Điền từ còn thiếu vào câu văn sau: “ Mị chỉ thì thào được một tiếng….” (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)


A. Đi ngay
B. Đi mau
C. Đi nhanh
D. Đi thôi


Câu 5: Hàng năm nhà Mị phải trả lãi cho nhà thống lí mấy nương ngô?
A. 1                      B. 2                   C. 3                     D. 4
Câu 6: Trong Vợ chồng A Phủ, Mị đã định ăn lá ngón tự tử mấy lần?  
A. 1                      B. 2                   C. 3                     D. 4
Câu 7: Những thế lực tội ác nào đã được Tô Hoài đề cập đến trong những câu văn sau: Chúng nó ác quá…Ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…   
A.  Thần quyền.       B. Thực dân Pháp.    C. Chúa đất, thần quyền.   
 Câu 8: Yếu tố nào sau đây có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự thức tỉnh của tâm hồn Mị trong đêm mùa xuân ở Hồng Ngài?
A. Màu sắc sặc sỡ của váy áo phơi trên những mỏm đá đầu làng
B. Tiếng trẻ con đợi tết, chơi quay cười ầm trước sân nhà
C. Tiếng sáo gọi bạn tình nơi đầu núi
D. Những bát rượu uống bên bếp lửa

III. Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
Câu 1 : Phóng viên Phùng đã chụp được “ cảnh đắt trời cho” vào thời điểm nào trong ngày?


A. Sáng sớm
B. Trưa
C. Chiều tối
D. Đem khuya


Câu 2: Trong cuộc đời mình, người đàn bà hàng chài vui nhất khi nào?
A. Khi không bị chồng đánh
B. Khi có nhiều tiền
C. Khi ngồi nhìn đàn con được ăn no
D. Khi được lên bờ sinh sống
Câu 3: Trong Chiếc thuyền ngoài xa người đàn ông đã dùng vật gì để đánh người đàn bà?
A. Dép
B. Gậy
C. Chổi
D. Thắt lưng thời Ngụy
Câu 4: Vì sao nếu nhìn lâu hơn bao giờ nhân vật “tôi” cũng thấy người đàn bà hàng chài bước ra từ tấm ảnh?
A. Vì nhìn lâu quá người ta dễ bị ảo giác
B. Vì bức ảnh chụp người đàn bà hàng chài đang bước đi
C. Vì trái tim, tâm hồn người nghệ sĩ chân chính luôn hướng về con người, nhất là những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh.
D. Vì nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi trước thân phận của một người vợ, người mẹ lam lũ, đau khổ.
Câu 5: Nội dung nào sau đây không phải là thông điệp mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi tới độc giả qua chuyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?
A. Người nghệ sĩ phải đảm nhận xứ mệnh lên tiếng nói vì quyền sống của con người nhất là những kiếp người lầm than, đau khổ
B. Hãy bằng lòng với những khám phá của mình vì cuộc sống vốn phong phú, phức tạp
 C. Cần phải nhận biết cuộc sống bằng cái nhìn nhiều chiều, biết nhìn thấu con người ở bên trong con người
D. Không nên nhìn cuộc sống từ khoảng cách xa, từ những hiện tượng bề ngoài.
Biên soạn: P.L 


Hướng dẫn ôn tập văn kiểm tra định kì 4 - Tác phẩm Vợ chồng A Phủ

19:49 |
I/ Câu hỏi tự luận:
Có những giọt nước mắt làm xúc động lòng người trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài.
(Cảm nhận về những giọt nước mắt trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ).


MỘT SỐ GỢI Ý

1. Khái quát:
- Vài nét về tác phẩm (hoàn cảnh ra đời, vị trí, xuất xứ tác phẩm)
- Chi tiết giọt nước mắt xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm làm xúc động lòng người, góp phần quan trọng thể hiện tâm lí nhân vật, tư tưởng tác phẩm và điển hình cho nghệ thuật của Tô Hoài.

2. Cảm nhận:
a. Nêu chi tiết:
Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, hình ảnh giọt nước mắt nhiều lần xuất hiện gắn liền với tình cảnh éo le của hai nhân vật Mị và A Phủ:
- Khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra, có tới hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc.
- Mị bỏ trốn về nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe…nức nở. Nghe lời của cha, Mị chỉ bưng mặt khóc.
- Đêm mùa xuân, Mị bị A Sử trí đứng vào cột. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được.
- Đêm mùa đông, Mị trở dậy thổi lửa. Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại.
b. Ý nghĩa nội dung và nghệ thuật.
- Nội dung
+ Phản ánh tình cảnh éo le, ngang trái, số phận cùng khổ, bất hạnh của Mị và A Phủ.
+ Thể hiện sâu sắc sức sống tiềm tàng, tinh thần phản kháng, khát vọng sống của các nhân vật.
+  Góp phần thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
- Nghệ thuật
  Là những chi tiết quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sắc nét thế giới nội tâm, diễn biến tâm lí của nhân vật.

3. Đánh giá:
- Giọt nước mắt của Mị và A Phủ để lại trong lòng đôc giả những ấn tượng sâu sắc, khơi dậy lòng thương, sự cảm thông trân trọng với số phận bất hạnh của con người.
- Trong những tình cảnh éo le, bất hạnh, mỗi người trong chúng ta không được đánh mất niềm tin, khát vọng sống của bản thân. 

II/ Câu hỏi trắc nghiệm.
Trả lời các câu hỏi sau bằng cách lựa chọn đáp án đúng:
1.     Ông là nhà văn một lòng đi về với “đất”, “với người” với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn. Ông là ai?
A. Nam Cao.         B. Tô Hoài.           C. Kim Lân.          D. Nguyễn Thi.
2.     Chè khoán trong câu nói của bà cụ Tứ là gì?
A. Cháo hoa.          B. Cháo cám.           C. Cháo sắn.          D. Cháo ngô.
3.  Trong câu văn: Người chết như ngả rạ nhà văn Kim Lân đã sử dụng nghệ thuật gì?
A. Ẩn dụ.         B. Nhân hóa           C. So sánh.        D. Hoán dụ.
4. Những thế lực tội ác nào đã được Tô Hoài đề cập đến trong những câu văn sau: Chúng nó ác quá…Ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…   
A.  Thần quyền.       B. Thực dân Pháp.    C. Chúa đất, thần quyền.   
 Biên soạn: N.H



Hướng dẫn ôn tập môn văn kiểm tra định kì 4 - Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

01:10 |


Câu 4: Mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống từ hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng.
Gợi ý:
1. Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng:
*Phát hiện thứ nhất: Vẻ đẹp tuyệt đỉnh khi con chiếc thuyền ở ngoài xa.
+Cảnh được miêu tả:
-Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ.
-Cảnh giống như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ, từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp. Đó là một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích.
=> Đây quả là một cảnh đắt trời cho
+Tác động của vẻ đẹp ngoại cảnh tới cảm xúc người nghệ sĩ:
-Bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào.
-Khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.
- Nghĩ rằng “hiện thân của cái đẹp chính là đạo đức.
=> Cái đẹp của ngoại cảnh phù hợp với quan niệm về nghệ thuật của nghệ sĩ và cũng đáp ứng được yêu cầu của trưởng phòng, một bức tranh tĩnh.
*Phát hiện thứ hai: bức tranh cuộc sống đầy bất ngờ và nghịch lý khi con thuyền tiến vào bờ.
+ Bước ra là những con người xấu xí:
- Người đàn bà: Ngoài bốn mươi tuổi, cao lớn với những đường nét thô kệch, mụ rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ.
- Người đàn ông: Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, lông mày cháy nắng đôi mắt đầy vẻ độc dữ...
+ Sau đó là cảnh tượng bạo lực trong  gia đình thuyền chài:
- Người đàn ông “dùng chiếc thắt lưng của lính ngụy quật tới tấp vào lưng người đàn bà” với tất cả sự căm hận: mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ
- Người đàn bà: cam chịu đầy nhẫn nhục, không chống trả, không tìm cách chạy trốn.
- Đứa con trai tên Phác từ đâu lao ra đánh bố để bảo vệ mẹ
- Người đàn ông tát thằng con ngã dúi xuống cát rồi bỏ về thuyền, người đàn bà ôm chầm lấy con khóc rồi  đuổi theo người đàn ông về thuyền
+ Như một câu chuyện cổ đầy quái đản, sau đó con thuyền lướt vó biến mất
=> Bi kịch gia đình diễn ra quá nghiệt ngã.
+ Cảm xúc của người nghệ sĩ:
- “Kinh ngạc”, “đứng há mồm ra mà nhìn”, không tin vào những gì đang diễn ra.
-  Phùng “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”.
=>Đời sống con người vốn ẩn chứa nhiều mâu thuẫn phức tạp. Hóa ra sự thật về cuộc sống đang diễn ra hàng ngày thu hút người nghệ sĩ hơn cái đẹp tĩnh tại của nghệ thuật.
+Nhận thức của nghệ sĩ Phùng.
- Phát hiện nghịch lý tồn tại trong hiện thực đời sống: Cảnh thiên nhiên thì toàn bích mà cảnh đời thì lắm trái ngang. Cái đẹp đích thực không nằm trong sự bất động của cảnh vật mà nằm trong sự vận động không ngừng của cuộc sống.

2. Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời:
- Qua hai phát hiện của Nghệ sĩ Phùng nhà văn muốn gửi gắm nhiều thông điệp về mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và cuộc sống, đồng thời khẳng định trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính trước cuộc đời.
- Nhà văn không nên nhìn cuộc đời chỉ bằng cái nhìn của người nghệ sĩ và từ ngoài xa. Người nghệ sĩ phải có góc nhìn và cự li khám phá cuộc sống gần gũi hơn để từ đó thấu hiểu được muôn sự đa đoan của cõi đời, để nhìn cuộc đời bằng cái nhìn đa chiều, đa diện, khách quan hơn.
- Người nghệ sĩ là người khám phá và biểu hiện bản chất đời sống ở những chiều kích khác nhau. Thế giới nghệ thuật là thế giới hàm chứa trong nó các tầng khác nhau của hiện thực. Văn học phải đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống, chấp nhận và miêu tả cả những mặt trái, những nghịch lí của cuộc sống.

3. Đánh giá:
+ Cái đẹp và nghệ thuật đích thực không tác rời cuộc sống của con người. Người nghệ sĩ chân chính phải cất lên tiếng nói vì con người, đặc biệt là những kiếp người cùng khổ. Đây cũng là quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh, nhắc nhở trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc đời và nó đánh dấu sự trở về với cuộc sống đời thường của văn học Việt Nam sau đổi mới.
- Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng thể hiện rõ nét phong cách truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: tác giả đã xây dựng thành công tình huống nhận thức, ngôn từ giản dị, giọng văn thâm trầm, giàu tính triết lý, chiêm nghiệm.

Câu 5: Về nhân vật người đàn bà hàng chài, có ý kiến cho rằng là nạn nhân của bạo hành gia đình; ý kiến khác lại cho rằng đây là nhân vật mang vẻ đẹp của tình thương, sự bao dung.
Gợi ý:
1. Giải thích:
* Bạo hành gia đình các hành vi bạo lực gây tổn hại về thể xác và tinh thần giữa các thành viên trong cùng một gia đình. Hành vi bạo lực thường thấy nhất là giữa vợ và chồng nhưng bạo lực giữa cha mẹ với con cái hay ông bà, anh em ruột với nhau…
- Tình thương: là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật.
- Sự bao dung: là lòng tôn trọng sự khác biệt của người khác đối với mình trong suy nghĩ, quan niệm sống, cách thức hành động,… cho phép người khác làm những chuyện mà bản thân mình không tán thành.
* Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến cảnh ngộ và nỗi khổ của người đàn bà hàng chài.
Ý kiến thứ hai đề cao vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài.
2. Bàn luận:
- Hai ý kiến xuất phát từ câu chuyện cuộc đời và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật người đàn bà hàng chài.
- Giới thiệu về người đàn bà hàng chài: Không có tên họ cụ thể, chỉ được gọi một cách phiếm định. Người đàn bà trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. 
- Người đàn bà hàng chài là nạn nhân của bạo hành gia đình: người đàn bà hàng chài bị chồng dùng thắt lưng da quật tới tấp vào lưng, cứ mỗi nhát quất xuống lại bị nguyền rủa: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ.” Người đàn bà bị bạo hành cả về thể xác và tinh thần. Hành động bạo hành còn diễn ra thường xuyên: Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.
- Người đàn bà giàu tình thương và sự bao dung:
+ Đối với người chồng thô bạo:
·        Hiểu, cảm thông cho nỗi khổ của người chồng: cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn vất vả đã khiến người chồng vốn hiền lành trở nên độc ác. Lão đánh vợ chỉ như một phương thức để giải toả nỗi vất vả, bực dọc của mình.
·        Người đàn bà chịu đựng những trận đòn một cách tự nguyện với một vẻ đầy cam chịu, nhẫn nhục, không chống trả cũng không tìm cách chạy trốn.
·        Tự nhận nguyên nhân khiến người chồng trở nên vũ phu về mình, đó là do đám đàn bà trên thuyền đẻ nhiều quá.
+ Đối với con:
·        Ý thức được sâu sắc thiên chức của người phụ nữ: ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, nuôi con cho đến khi khôn lớn nên phải gánh lấy cái khổ, đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không sống cho mình được…
·        Tình thương con là động lực mạnh mẽ khiến người đàn bà hàng chài nhẫn nhịn và chịu đựng bị hành hạ bởi trên thuyền phải có một người đàn ông để chèo chống mỗi khi phong và cùng nhau làm lụng, nuôi nấng sấp con.
·        Khi bị chồng đánh không kêu khóc nhưng khi thấy đứa con vì bảo vệ mình mà đánh bố thì chị bật khóc.
·        Chắt lọc hạnh phúc từ trong cuộc sống khổ cực: hạnh phúc là khi vợ chồng hòa thuận, con cái được ăn no.
+Người đàn bà hàng chài mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.
3. Đánh giá:
- Hai ý kiến trên tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành sự nhìn nhận sâu sắc về nhận vật người đàn bà hàng chài. Ý kiến thứ nhất chú trọng tới biểu hiện bề ngoài, ý kiến thứ hai đi sâu khám phá bản chất bên trong.
- Nhân vật người đàn bà hàng chài hiện lên với những nét vẽ chân thực đến trần trụi của bút pháp hiện thực.
-Nhân vật người đàn bà hàng chài góp phần thể hiện quan niệm nghệ thuật cũng như nỗ lực đổi mới văn học của Nguyễn Minh Châu.
- Liên hệ:
+ Cuộc sống đa chiều, con người đa diện, không nên nhìn sự vật hiện tượng chỉ ở vẻ bề ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu khám phá bản chất bên trong.
+Lên án nạn bạo hành gia đình - một trong những vấn đề thời sự trong xã hội hiện nay.

+ Mỗi người cần biết gìn giữ và trân trọng hạnh phúc gia đình.
Biên soạn: P.L
Được tạo bởi Blogger.