HƯỚNG DẪN ÔN TẬP KIỂM TRA ĐỊNH KỲMÔN NGỮ VĂN LẦN II- NĂM HỌC 2015 – 2016

10:07 |




A. Câu 1: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):
* Lựa chọn MỘT hoặc HAI trong các văn bản để hỏi. Nếu là MỘT gồm 04 câu hỏi: a,b,c,d. Nếu là HAI văn bản thì mỗi văn bản gồm 02 câu hỏi.
* Các câu hỏi đọc hiểu quan tâm đến các vấn đề:
-         Chọn câu chủ đề của đoạn trích trên?
-          Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
-          Tác giả thể hiện thái độ gì
-          Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về từ, cụm từ, câu…. (trình bày khoảng 5 đến 7 câu).
-         Biện pháp tu từ chính ….
-         Phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản,…
* Các văn bản cần quan tâm:
1. Văn bản 1.
          Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói như thế không có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kỳ lịch sử.
          Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó, thật sự có những đặc sắc của một thứ tiếng khá đẹp. Nhiều người ngoại quốc sang thăm nước ta và có dịp nghe tiếng nói của quần chúng nhân dân ta, đã có thể nhận xét rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc. Họ không hiểu tiếng ta, và đó là một ấn tượng, ấn tượng của một người “nghe” và chỉ nghe thôi. Tuy vậy lời bình phẩm của họ không phải chỉ là một lời khen xã giao. Những nhân chứng có đủ thẩm quyền hơn về mặt này cũng không hiếm. Một giáo sĩ nước ngoài (chúng ta biết rằng nhiều nhà truyền đạo Thiên Chúa nước ngoài cũng là người rất thạo tiếng Việt), đã có thể nói đến tiếng Việt như một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong câu kéo, rất ngon lành trong những câu tục ngữ”.       
  (Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc - Đặng Thai Mai)
2.     Văn bản 2:
Học sinh nhà trường là con em đồng bào các dân tộc đến từ nhiều vùng miền mang theo những tập quán, lối sống khác nhau, một số em chưa quen môi trường mới, khó hòa nhập với cuộc sống tập thể ...Chính vì vậy, Nhà trường luôn xác định mục tiêu cơ bản là: Đẩy mạnh giáo dục toàn diện cho học sinh, vừa dạy chữ vừa dạy người, xây dựng môi trường học tập lành mạnh, thân thiện, phát huy truyền thống đại đoàn kết các dân tộc. Bên cạnh việc truyền dạy kiến thức trên lớp, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên với lòng nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm đã thay cha mẹ các em vừa nuôi dưỡng vừa yêu thương, chăm sóc tận tình để học sinh trưởng thành và hoàn thiện nhân cách. Ngay từ những ngày đầu đến trường, học sinh đã nhận được sự quan tâm, tình yêu thương của các thầy cô, cán bộ, nhân viên nhà trường. Những lúc các em ốm đau, gia đình ở xa, các đồng chí cán bộ, giáo viên đã luôn ở bên để  chăm sóc, động viên bằng tất cả tình thương như những người ruột thịt. Trong suốt 40 năm qua, nhà trường như mái nhà chung ấm áp của con em đồng bào các dân tộc, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ viên chức nhà trường thực sự là người cha, người mẹ thứ hai của các em.
Qua từng thời kỳ, với từng bước đi lên vững chắc, kết quả và chất lượng giáo dục toàn diện của Nhà trường ngày càng được nâng cao, xứng đáng là địa chỉ tin cậy gửi gắm con em của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”.
(trích Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương sức hút từ chất lượng đào tạo – NGƯT. Lê Trọng Tuấn Hiệu trưởng nhà trường)
3. Lựa chọn một đoạn thơ trong bài TIẾNG HÁT CON TÀU - Chế Lan Viên.
4. Lựa chọn một đoạn văn bản trong bài TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - Hồ Chí Minh.

 B.Câu 2 - NGHỊ LUẬN VĂN HỌC ( 7 điểm)
I. Dạng đề so sánh:
Vấn đề 1: Hai đoạn thơ sau:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
(Việt Bắc - Tố Hữu)

- Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
     - Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
(Tây Tiến  - Quang Dũng)
Gợi ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến; Giới thiệu tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc
- Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích:
          - Vẻ đẹp nỗi nhớ, nhận xét chung về nỗi nhớ trong hai đoạn thơ
- Khái quát về vị trí đoan thơ:
b. Cảm nhận:
b.1. Đoạn thơ trong Việt Bắc:
- Nhớ người:
        Hs cần chỉ ra và làm rõ các ý sau (Học sinh phải bám vào từ ngữ, hình ảnh, câu thơ):
        + Nhớ về Việt Bắc như là nhớ về người yêu, người thương, tình nghĩa của người cách mạng đối nhân dân luôn ở độ nồng nàn, đắm say.
        + Nhớ con người Việt Bắc trong lao động, sinh hoat, kháng chiến
 - Nhớ cảnh:
        + Không gian, thời gian của mối tình đẹp: nơi hò hẹn lãng mạn, thiên nhiên nên thơ, lộng lẫy
        + Không gian, thời gian của lao động, sinh hoạt giản dị mà ấm cúng thân thương
- Cảnh và người chan hòa gợi tình yêu đôi lứa bắt nguồn trong lao động, chiến đấu, trong tình yêu đất nước, dân tộc, thời đại,…
* Hs khi cảm nhận cần chú ý đến nghệ thuật của đoạn thơ
b.2. Đoạn thơ trong Tây Tiến:
- Nhớ cảnh: đó là cảnh thiên nhiên Tây Bắc trong kí ức đẹp
        + Hình ảnh dòng sông Mã: Hs cần giải thích về hình ảnh dòng sông Mã, cần chú ý cách nói: ...xa rồi, gợi sự nuối tiếc trong nỗi nhớ da diết
        + Rừng núi, Sài Khao, Mường Lát: Hs chú ý cách dùng từ khái quát để gợi không gian sinh tồn.
        +Cách nói diễn đạt nỗi nhớ chơi vơi: vừa thực, vừa ảo, vừa da diết, vừa mênh mang.
- Nhớ người:
        + Nhớ không gian gắn với cuộc đời người lính Tây Tiến:
       + Nhớ TT trong những chặng đường hành quân;  trong tình cảm thắm thiết với nhân dân:
* Hs khi cảm nhận cần chú ý đến nghệ thuật của đoạn thơ
c. Đánh giá
-  Giống nhau:
        + Nỗi nhớ về vùng đất từng gắn bó, về thiên nhiên thơ mộng, lãng mạn.
        + Nỗi nhớ về con người kháng chiến: giản dị, kiên trung, gần gũi, yêu thương và nghĩa tình.
        + Vẻ đẹp tâm hồn của chính người lính: rung động với cảnh và người kháng chiến bằng tình yêu gắn bó.
- Khác nhau:
        + Hoàn cảnh sáng tác
        + Thể loại
        + Tố Hữu nhấn mạnh nỗi nhớ về Việt Bắc, nhân dân, kháng chiến trong so sánh với tình yêu đôi lứa; Quang Dũng lại hướng nỗi nhớ đến những người đồng đội, cách mạng, kháng chiến gian nan mà anh hùng, nghĩa tình.
- Bài học liên hệ: không được quên quá khứ, phải trân trọng giữ gìn để nuôi dưỡng tương lai.
3. Kết bài: Khẳng định giá trị hai đoạn thơ, tài năng tác giả.

Vấn đề 2: Hai đoạn thơ sau:
                                “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
                                 Quân xanh màu lá dữ oai hùm
                                 Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
                                 Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
                                                         (“Tây Tiến”– Quang Dũng)
                                      “Những đường Việt Bắc của ta
                                Đêm đêm rầm rập như là đất rung
                                      Quân đi điệp điệp trùng trùng
                                 Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân quân đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay…”
                                                            (“Việt Bắc”– Tố Hữu)
Gợi ý:

1. Mở bài:
– Giới thiệu Quang Dũng, Tố Hữu và hai tác phẩm
- Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài:
a. Khái quát về hai đoạn thơ
b. Cảm nhận:
b.1. Đoạn thơ trong Tây Tiến:
- Hình ảnh người lính Tây Tiến được vẽ bằng những nét phi thường, khác lạ gợi nét lãng mạn, hào hùng:
-  Người lính còn được gợi tả vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa:
* Hs khi cảm nhận cần chú ý đến nghệ thuật của đoạn thơ
b.2. Đoạn thơ trong Việt Bắc:
- Gợi bức tranh toàn cảnh quân dân ta ra trận chiến đấu với khí thế hào hùng, sôi sục, khẩn trương: “Những đường Việt Bắc… như là đất rung”:
- Gợi hình ảnh bộ đội hành quân ra trận hào hùng vừa lãng mạn:
* Hs khi cảm nhận cần chú ý đến nghệ thuật của đoạn thơ
c. Đánh giá:
– Giống nhau: Đều khắc họa người lính, người kháng chiến, người cách mạng với vẻ đẹp vừa hào hùng, vừa lãng mạn, bay bổng.
– Khác nhau:
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ“Tây Tiến”,vẻ đẹp hào hùng của người lính phảng phất sự bi thương.
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ“Việt Bắc”,vẻ đẹp lãng mạn của người lính còn được Tố Hữu gắn liền với hiện thực.
– Cả hai tác giả đều có trải nghiệm từ thực tế chiến đấu nên thơ đậm chất hiện thực. Bên cạnh đó, Quang Dũng là một chàng trai Hà thành rất hào hoa nên thơ ông có cái lãng mạn rất riêng; còn ở Tố Hữu, thơ ông là thơ trữ tình chính trị, luôn có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào cách mạng.
- Bài học liên hệ: yêu Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu vì Tổ quốc.
3. Kết bài:
–   Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận

Vấn đề 3: Hai đoạn thơ sau:
                                 “Rải rác biên cương mồ viễn xứ
                                   Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
                                  Áo bào thay chiếu anh về đất
                                 Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
                                                         (“Tây Tiến”– Quang Dũng)
                                      “Những đường Việt Bắc của ta
                                Đêm đêm rầm rập như là đất rung
                                      Quân đi điệp điệp trùng trùng
                                 Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
                                     Dân quân đỏ đuốc từng đoàn
                                Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay…”
                                                            (“Việt Bắc”– Tố Hữu)
Gợi ý:
1. Mở bài:
– Giới thiệu Quang Dũng, Tố Hữu và hai tác phẩm
- Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài:
a. Khái quát về hai đoạn thơ:
b. Cảm nhận:
b.1. Đoạn thơ trong Tây Tiến:
- Sự thật dữ dội, trần trụi của chiến tranh gợi tinh thần bi tráng:
- Tượng đài người anh hùng và khúc tráng ca bất tử:
* Hs khi cảm nhận cần chú ý đến nghệ thuật của đoạn thơ
b.2. Đoạn thơ trong Việt Bắc
- Gợi bức tranh toàn cảnh quân dân ta ra trận chiến đấu với khí thế hào hùng, sôi sục, khẩn trương: “Những đường Việt Bắc… như là đất rung”:
- Gợi hình ảnh bộ đội hành quân ra trận hào hùng vừa lãng mạn: “Quân đi điệp điệp trùng trùng…lửa bay”.
* Hs khi cảm nhận cần chú ý đến nghệ thuật của đoạn thơ
c. Đánh giá:
– Giống nhau: Đều khắc họa người lính với vẻ đẹp vừa hào hùng, vừa lãng mạn, bay bổng.
– Khác nhau:
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ“Tây Tiến” gợi vẻ đẹp của người lính hào hùng, bi tráng.
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ“Việt Bắc”,vẻ đẹp lãng mạn của người lính còn được Tố Hữu gắn liền với hiện thực.
– Cả hai tác giả đều có trải nghiệm từ thực tế chiến đấu nên thơ đậm chất hiện thực. Bên cạnh đó, Quang Dũng là một chàng trai Hà thành rất hào hoa nên thơ ông có cái lãng mạn rất riêng; còn ở Tố Hữu, thơ ông là thơ trữ tình chính trị, luôn có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào cách mạng.
- Bài học liên hệ: yêu Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu vì Tổ quốc.
3. Kết bài:
–   Hai đoạn thơ bên cạnh những điểm tương đồng còn có những nét riêng độc đáo, thể hiện tài năng của hai nhà thơ.
–    Khẳng định vị trí của hai tác giả trong nền văn học cũng như trong lòng độc giả.

Vấn đề 4: Hai đoạn thơ sau:
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
                          Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.                            
   (Việt Bắc - Tố Hữu)
"Con sóng dưới lòng sâu
 Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ 
Ngày đêm không ngủ được
 Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.”
                              (Sóng - Xuân Quỳnh)
Gợi ý:

1. Mở bài:
– Giới thiệu Tố Hữu, Xuân Quỳnh và hai tác phẩm
- Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận:
2. Thân bài:
a. Khái quát về hai đoạn thơ
b. Cảm nhận:
b. 1. Đoạn thơ trong bài thơ Sóng
- Nỗi nhớ tràn ngập khắp không gian:
- Nỗi nhớ tràn ngập khắp thời gian:
- Nỗi nhớ tràn cả vào ý thức, vô thức, tiềm thức “cả trong mơ còn thức”
* Nghệ thuật: thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu; phép ẩn dụ, nhân hóa, điệp cấu trúc, tương phản.
b. 2. Đoạn thơ trong Việt Bắc
- Nỗi nhớ tràn ngập không gian thời gian, thấm vào cảnh vật thiên nhiên:
+ Thiên nhiên bình dị tươi đẹp: nắng chiều, trăng lên đầu núi, bản khói cùng sương, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…
+ Con người Việt Bắc cần cù chăm chỉ, chịu thương chịu khó: sớm khuya bếp lửa người thương đi về
* Nghệ thuật:
- Thể thơ lục bát âm điệu ngọt ngào sâu lắng; sử dụng phép điệp từ, ngôn ngữ bình dị
c. So sánh:
- Giống nhau:
+ Cả hai đoạn thơ đều viết về nỗi nhớ, một trạng thái cảm xúc nảy sinh trong cuộc chia ly với những con người đã từng gắn bó sâu nặng, thắm thiết, những mảnh đất để lại dấu chân đi qua.
+ Nghệ thuật thể hiện: Hai đoạn thơ, các tác giả đều tập trung khắc họa những cung bậc trạng thái phong phú, đa chiều của nỗi nhớ.
- Khác nhau:
+ Việt Bắc (Tố Hữu) - Nội dung cảm xúc: nỗi nhớ trong thơ Tố Hữu thuộc về tình cảm lớn lao, tình cảm chính trị, tình cảm cách mạng.
Đoạn thơ sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc. Giọng điệu ngọt ngào như một khúc trữ tình sâu lắng, da diết.
+ Sóng (Xuân Quỳnh) - Thể hiện nỗi nhớ dạt dào da diết trong tâm hồn người con gái đang yêu.
Đoạn thơ sử dụng thể thơ năm chữ và ẩn dụ nghệ thuật sóng.
- Bài học , liên hệ: Biết sống yêu thương, tình nghĩa thủy chung.
3. Kết bài:
 Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận

Vấn đề 5. Hai đoạn thơ sau:
Ngưi đi Châu Mộc chiu sương ấy
Có thấy hồn lau no bến bờ
Có nhớ dáng ngưi trên độc mộc
Trôi dòng nưc lũ hoa đong đưa
(Tây Tiến - Quang Dũng)
   Nhớ như nhớ ngưiu
          Trăng lên đầu núi nắng chiu ng nương
   Nhớ từng bản khói cùng sương
          Sm khuya bếp lửa ngưi thương đi về.
                                    (Vit Bắc - Tố Hữu)
Gợi ý:
1. Mở bài:
- Giới thiu về  hai tác gi, hai tác phm
- Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài:
a. Khái quát về vị trí, nội dung hai đoạn thơ
b.Cảm nhân:
* Đon t trong bàiTây Tiến:
- Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên sông nước min Tây chiều sương t mộng, huyn o
- Vẻ đẹp của con người min Tây khỏe khon mà duyên dáng
- Ngòi bút tài hoa ca Quang Dũng t ít gợi nhiu, khc họa được thn thái của cảnh vt con người min Tây.
* Đon t trong bài Vit Bắc”:
- Vẻ đẹp khung cảnh thiên nhiên Vit Bc quen thuộc, bình d, gn gũi mà t mộng, tr nh
- Vẻ đẹp cuộc sống và con người Vit Bc gian khổ mà thy chung, son st
- Mượn lời đáp của người v xi, nhà t bộc l nỗi nhớ da diết đối với Vit Bc, qua đó, dựng lên hình nh Vit Bc trong kháng chiến anh ng, nh nghĩa, thy chung.
* So sánh:
- Giống nhau:
+ Hai đon t tiêu biu cho t ca thời kháng chiến chống Pháp, th hin vẻ đp của thiên nhiên con người Vit Bắc, Tây Bc nh cảm gn của tác gi đối với con người min đt xa xôi của Tổ quốc.
- Khác nhau:
+ Thiên nhiên min Tây trong t Quang Dũng hoang vu nhưng đm màu sc lãng mn, o; con người min Tây hin lên trong vẻ đp khỏe khon mà duyên dáng; thể t tht ngôn mang âm hưởng vừa c đin va hin
+ Thiên nhiên Vit Bc trong t Tố Hữu gn i, quen thuc mà tr tình; con ni Vit Bc hin lên trong tình nghĩa ch mng thủy chung; th thơ lc bát mang âm ng ca dao dân ca.
* Bài học liên hệ: Tình yêu quê hương đất nước.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận

II. Dạng đề nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học:
       Vấn đề 1:  Cảm hứng lãng mạn, tinh thần bi tráng qua đoạn thơ :
                             “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
                                Quân xanh màu lá dữ oai hùm
                                Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
                                Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
                                Rải rác biên cương mồ viễn xứ
                                Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
                               Áo bào thay chiếu anh về đất
                               Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
 (Tây Tiến  - Quang Dũng)
 Gợi ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
a.  Giải thích khái niệm, nêu vị trí của đoạn thơ:
- Giải thích các khái niệm: cảm hứng lãng mạn, tinh thần bi tráng.
- Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trở thành nội dung nổi bật của đoạn thơ, vì:
+ Đặc điểm thời đại:
+ Nét đặc biệt của đoàn quân Tây Tiến: phần đông là thanh niên, học sinh Hà Nội
+ Quang Dũng là một hồn thơ lãng mạn, tài hoa đồng thời cũng là một chiến sĩ của đoàn quân TT.
- Nêu vị trí của đoạn thơ.
b. Bàn luận:
* Bốn câu thơ đầu:
- Hình ảnh người lính Tây Tiến được vẽ bằng những nét phi thường, khác lạ về ngoại hình, cuộc sống chiến đấu của họ:
+ Trước hết, Quang Dũng cũng đề cập đến sự thật trần trụi, khốc liệt của chiến tranh để tô đậm hình ảnh và cuộc sống người lính.
Hs giải thích các hình ảnh: đoàn binh không mọc tóc, quân xanh màu lá.
+ Dưới cái nhìn lãng mạn, hs phải khẳng định được Quang Dũng chạm khắc những nét vẽ phi thường về hình ảnh, cuộc sống người lính Tây Tiến.
Hs chú ý các hình ảnh: đoàn binh, quân xanh màu lá, dữ oai hùm.
- Ở hai câu thơ sau Quang Dũng lại hướng ngòi bút lãng mạn về đời sống tâm hồn của họ.
+ Hs giải thích hình ảnh về đôi mắt trừng.
+ Ở một nét khác, tâm hồn người lính được gợi tả qua mộng: nhớ về gia đình, nhớ quê hương, mộng giết giặc lập công, mơ về Hà Nội với dáng kiều thơm, văn chương sách vở.
* Bốn câu thơ sau: nhấn mạnh đến sự hy sinh và lẽ sống của người lính. Chất bi tráng nổi bật.
- Hs chỉ ra được sự thật dữ dội, trần trụi của chiến tranh:
- Hs cũng cần chỉ ra sự thật  khác về sự hy sinh của người lính trong chiến tranh:
+ Hình ảnh áo bào gợi được sắc thái trang trọng, giảm đi phần thê lương cho cái chết.
+ Chứng kiến cái chết của người lính, dòng sông Mã anh hùng hóa thành sinh thể có hồn để tấu lên khúc độc hành.
c. Đánh giá, liên hệ:
- Hs liên hệ, khẳng định vẻ đẹp nghĩa tình đồng đội; trách nhiệm, nghĩa vụ bản thân
3. Kết luận:
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận

          Vấn đề 2: Ân tình cách mạng qua 8 câu thơ mở đầu trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu.
"Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"
Gợi ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
-  Dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Ân tình: tình cảm thắm thiết do có ơn sâu nặng đối với nhau
- Nêu vị trí đoạn thơ
- Hs dựa trên kết cấu lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dựa trên những dấu ấn về giọng điệu và  ngôn ngữ của Tố Hữu tạo nên trong đoạn thơ để khẳng định ân tình cách mạng của thời đại Hồ Chí Minh: ân tình của con người cách mạng với con người cách mạng; ân tình của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc với Đảng, chính phủ và bác Hồ,…
b. Bàn luận:
* Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại, lời của đồng bào Việt Bắc.
- Từ bối cảnh cụ thể, từ dự cảm của người cách mạng với sự phát triển của cách mạng, Hs cần làm rõ thông qua những câu hỏi tha thiết, mặn nồng:
+ Câu hỏi thứ nhất là hỏi về thời gian:Hs cần lập luận để chỉ ra đó là thời gian của sự gắn bó mà tạo thành tình cảm, nghĩa tình sâu nặng.
+ Câu hỏi thứ hai là hỏi về không gian: Hs cần giải thích, lập luận để nhấn mạnh vẻ đẹp tình cảm đã trở thành đạo lý dân tộc: uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây
- Cấu trúc lặp câu hỏi: nhấn mạnh, người ra đi không được quên nguồn cội, phải gắn bó ân tình thủy chung khi phải xa nhau.
* Bốn câu sau là lời của người ra đi, lời của cán bộ cách mạng miền xuôi.
Hs cần làm rõ:
- Tình cảm của người ra đi được thể hiện qua hệ thống các từ láy: tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn.
- Trong cuộc chia tay đầy lưu luyến, Tố Hữu đã sử dụng hai hình ảnh giản dị mà xúc động:
+ Áo chàm là hình ảnh hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc. Đây là hình ảnh biểu tượng cho cuộc sống giản dị và tấm lòng son sắt thủy chung đối với cách mạng và kháng chiến.
+ Cầm tay nhau biết nói gì: Hình ảnh cầm tay mang nhiều ý nghĩa biểu tượng..
* Nghệ thuật: Hs cần chỉ ra một số nét nghệ thuật tiêu biểu:
- Tác giả sử dụng thành công thể loại thơ lục bát.
- Tám câu thơ cũng như cả bài kết cấu theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao. Song nếu nhìn thật kĩ, ta lại thấy đây là lời độc thoại nội tâm của nhân vật trữ tình đang đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào về quá khứ đẹp đẽ.
- Cách sử dụng ngôn ngữ cũng rất ấn tượng
c. Đánh giá, liên hệ
- Phải sống gắn bó nồng nàn với Việt Bắc, với cách mạng, với kháng chiến thì thì Tố Hữu mới viết sâu sắc như thế.
- Tuy chỉ là một đoạn thơ ngắn nhưng nó giúp người ta hiểu được ưu thế của thơ Tố Hữu: Một tiếng thơ trữ tình – chính trị xuất sắc nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại.
- Ân tình cách mạng trong đoạn thơ là bài học về cách ứng xử cho mỗi chúng ta.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị  luận

Vấn đề 3: Bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:
“Ta về mình có nhớ ta 
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
                       (Việt Bắc - Tố Hữu)
Gợi ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Tố Hữu, giới thiệu bài thơ
- Dẫn dắt  đến vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Nghệ thuật tứ bình  
b. Khái quát về vị trí, nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.
c. Phân tích:
– Hai dòng đầu của đoạn thơ vừa giới thiệu chủ đề của đoạn, vừa có tính chất như một sự đưa đẩy để nối các phần của bài thơ lại với nhau
– Trong tám dòng thơ tiếp theo, tác giả tạo dựng một bộ tranh tứ bình về Việt Bắc theo chủ đề Xuân – Hạ – Thu – Đông. Ngòi bút tạo hình của nhà thơ đã đạt tới trình độ cổ điển. Bút pháp miêu tả nhất quán: câu lục để nói cảnh, còn câu bát dành để “vẽ” người.
– Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông.
+ Thiên nhiên: Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già. Sự đối chọi hai màu xanh – đỏ ở đây rất đắt.
+ Con người: được miêu tả trong công việc lao động với vẻ đẹp khỏe khắn.
– Bức tranh thứ hai tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng.
+ Thiên nhiên:  Xuân về,rừng hoa mơ bừng nở. Màu trắng tinh khiết của nó làm choáng ngợp lòng người.
+ Con người: Người đan nón có dáng vẻ khoan thai rất hòa hợp với bối cảnh. Từ “chuốt” vừa mang tính chất của động từ vừa mang tính chất của tình tứ.
– Bức tranh thứ ba nói về mùa hè
+ Thiên nhiên: tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá.
+ Con người: Hình ảnh cô gái chủ động trong công việc của mình.
– Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu
+ Thiên nhiên: ánh trăng dịu mát, êm đềm.
+ Con người: “tiếng hát ân tình thủy chung”: tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời điểm hiện tại đang ngân nga trong lòng người sắp phải giã từ Việt Bắc
d. Đánh giá:
- Đây là một trong những đoạn thơ đặc sắc của bài thơ, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
- Nghệ thuật: sử dụng thể thơ lục bát điêu luyện, hình ảnh thơ sáng tạo.
- Liên hệ: tình yêu quê hương đất nước của bản thân.
3 Kết bài:
Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận.

Vấn đề 4: Hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này.
Gợi ý:
1. Mở bài:
-  Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận:
2. Thân bài:
a. Khái quát:
-         Đề tài tình yêu
-         Hình tượng sóng trong bài thơ
b.Phân tích:
Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ. Cùng với hình tượng em, sóng thể hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ rất truyền thống mà rất hiện đại.
Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống
- Hành trình của sóng tìm tới biển khơi như hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đính, như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng
- Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, khó nắm bắt của tình yêu
Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao, trăn trở không yên, như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung
Sóng là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng muôn đời của con người, trước hết là người phụ muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực          
c. Cảm nhận:
- Trước hết, hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu: thật đằm thắm, dịu dàng, thật đôn hậu dễ thương, thật thủy chung.
- Hình tượng sóng cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian nhưng vững tin vào sức mạnh của tình yêu.
3. Kết luận:
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận

III.Dạng đề nghị luận về hai ý kiến:
Vấn đề 1: Về 14 câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên  hùng vĩ, thơ mộng song cũng đầy dữ dội, khắc nghiệt. Ý kiến khác lại khẳng định: Đoạn thơ vẽ nên bức tượng đài về người chiến sĩ Tây Tiến kiêu hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa.
Anh (chị) suy nghĩ ntn về hai ý kiến trên?
Gợi ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ.
- Dẫn ý hai kiến.
2.Thân bài:
a. Khái quát:
- Hoàn cảnh ra đời bài thơ.
- Nêu vị trí đoạn thơ
b. Bàn luận:
*  Nhận định thứ nhất: Đoạn thơ là bức tranh TN TB hùng vĩ, thơ mộng song cũng đầy dữ dội, khắc nghiệt.
- Thiên nhiên TB hùng vĩ, thơ mộng:
- Thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt:
- Nhận xét: Với con mắt thi, nhạc, họa kết hợp với cảm hứng bi tráng, lãng mạn, QD đã tái hiện sinh động 1 bức tranh nghệ thuật ngôn từ về thiên nhiên TB với sự kết hợp của nhiều nét vẽ: vừa thơ mộng, trữ tình vừa hùng vĩ, dữ dội.
* Nhận định thứ hai: Đoạn thơ vẽ nên bức tượng đài về người chiến sĩ TT kiêu hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa.
- Họ phải đối mặt với biết bao khó khăn, thử thách, mất mát, hi sinh.
- Tâm hồn lãng mạn, hào hoa: Người chiến binh Tây Tiến hiện lên vừa kiêu hùng, bi tráng vừa lãng mạn, hào hoa
c. Đánh giá:
- Hai nhận định đều khái quát được nội dung cơ bản của đoạn thơ.
- Cả hai nhận định đều cho thấy cái nhìn đầy đủ, rõ nét về thiên nhiên TB và người lính TT dội về trong nỗi nhớ của nhà thơ khi ông đã rời xa TT, rời xa sông Mã.
- Đoạn  thơ không chỉ đơn thuần gợi nhớ về thiên nhiên và người chiến sĩ mà quan trọng hơn thế còn là tình yêu và sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với TB, với TT.
- Đoạn thơ là sự phối hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và bút pháp lãng mạn. Chính sự hòa quyện đó khiến cho bức tranh về thiên nhiên và con người hiện lên đa chiều, trọn vẹn.
Kết bài:
- Khái quát lại vấn đề, đánh giá thành công của tác giả, đoạn trích
- Nêu cảm xúc, ấn tượng của bản thân.

Vấn đề 2: Có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là bản anh hùng ca, bản tình ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”. Ý kiến khác lại khẳng định: “Ở Việt Bắc, tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu rõ nét nhất”. Bằng cảm nhận về đoạn thơ Việt Bắc (SGK - Ngữ Văn 12, Tập Một - NXB Giáo dục), anh/ chị hãy làm sáng tỏ những ý kiến trên.
Gợi ý:
1.Mở bài:
Giới thiệu tác giả Tố Hữu, bài thơ Việt Bắc, dẫn dắt đến nhận định 
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Ý kiến thứ nhất: Đề cập đến giá trị nội dung của bài thơ.
- Ý kiến thứ hai: Khẳng định giá trị nghệ thuật của bài thơ
b. Bình luận:
*Việt Bắc là bản tình ca trong kháng chiến:
- Tình cảm lưu luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca ngợi lối sống ân tình thủy chung của đồng bào Việt Bắc
- Ca ngợi vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc:
* Việt Bắc là bản anh hùng ca trong kháng chiến:
- Căm thù trước tội ác của
- Anh hùng trong chiến đấu:
- Ca ngợi những chiến công vang
- Niềm tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ; khẳng định Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến
* Việt Bắc thể hiện rõ nét tính dân tộc….
- Tâm trạng bao trùm là nỗi nhớ, nương theo những câu hỏi, theo lối đối đáp của ca dao ta- mình để khơi gợi kỉ niệm về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.
c. Đánh giá:
- Hai ý kiến trên tuy khác nhau nưng không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để hoàn thiện giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
- Đây là những ý kiến đánh giá đúng đắn về giá trị của bài thơ Việt Bắc, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thi phẩm. Bài thơ Việt Bắc – một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.
3 .Kết luận:
 Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận

 Nhóm chuyên môn Ngữ Văn

Chuyện tình của các chàng gió (các loại gió hoạt động ở Việt Nam)

07:23 |
1.     Gió Tín Phong (Gió Mậu Dịch)
Gia đình ông bà Việt Nam ở thôn Đông Nam Á có liền mấy cô con gái. Các nàng đến tuổi cập kê, trăng rằm, trăng 16…mỗi người mỗi vẻ. Nàng thì mỏng manh e ấp, nàng thì cao lớn thong dong, nàng thì bé bỏng ngây thơ, nàng thì mềm mại thướt tha…Nói tóm lại đều có nét hấp dẫn riêng. Vì vậy nên các trai anh hùng gần xa đều đến tìm. Nổi bật nhất là các chàng Gió.
Đầu tiên là chàng Tín Phong, tên ít dùng đến gọi chàng Mậu Dịch. Tín Phong - chàng gió tin cậy, thủy chung son sắc trong ý định làm rể phương nam. Quê chàng ở vùng cao áp Cận chí tuyến BBC. Nghe tiếng con gái vùng nhiệt đới xinh đẹp nên chàng rời quê tìm đến. Chàng đi theo hướng Đông Bắc đi xuống, đáng lẽ đi thẳng thì nhanh hơn, khỏe hơn, đỡ tốn sức nhưng vì cái việc quay quanh trục không nghỉ của Trái đất theo chiều ngược kim đồng hồ làm cho hướng đi của chàng Tín Phong lệch về bên phải so với hướng xuất phát ban đầu, Bắc – nam chuyển thành Đông Bắc – Tây Nam.
Chàng đi theo hướng đó và suốt cả năm bền bỉ, tình cảm ấm nồng, một lòng hướng đến gia đình ông bà Việt Nam, quyết làm lung lay cho được không chỉ một người con gái của ông bà, nên tên gọi Tín Phong rất phù hợp.
(Nhưng ở phương tây thường nói chàng là Mậu Dịch. Bởi một thời đầu thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, các đoàn thuyền buôn Châu Âu đã nương theo sức mạnh của chàng mà căng buồm vượt các đại dương đi buôn giữa các châu lục)
Khi đến được gia đình ông bà Việt Nam với tình nồng ấm nhưng vốn tính cách chàng lại khô khan, chàng hong khô ao hồ, ruộng nương, đốt cháy người con gái mình yêu trong ánh mắt rực lửa. Tội nghiệp cho hai nàng Nam Bộ và Tây Nguyên, khô khan, bỏng rát cả da thịt vì tình yêu nóng rẫy đó. Tình trạng“khủng bố tình yêu”làm khổ hai nàng khoảng 6 tháng(từ tháng11 năm trước tới tháng 4 năm sau). Tội nghiệp cho làn da! Làn da nâu và khát nước.
Cô chị cả Miền Bắc thì sao?( chị cả cách hai em miền trong bởi dãy Bạch Mã nơi có vòng vỹ tuyến 160 Bắc ngang qua). Chị chưa hẳn là xinh đẹp, nết na hơn 2 em. Nhưng người ta bảo “nhất cự ly, nhì cường độ”, phong thủy quan trọng hơn tài năng, đức độ. Nàng chị ở ngoài, cũng “bị” anh Tín Phong liếc qua nóng rực, nên cũng thô ráp làn da và mái tóc nhưng thật may tình trạng không quá cực đoan như hai em của nàng ở phía trong. Bởi vì, cũng chính trong thời gian đó( tháng XI – tháng IV) phía chị xuất hiện thêm một chàng gió nữa – chàng Đông Bắc vô cùng ấn tượng.
2.     Chàng gió mùa Đông Bắc.
Khoác bên ngoài cái vẻ lạnh lùng, khô khan, chàng Đông Bắc bất ngờ ùa đến cửa ngõ nhà ông bà Việt Nam. Chàng đi cùng hướng với Tín Phong nhưng thật tội, quê chàng xa xôi lắm, mãi tít tận vùng cao áp XiBia – Vùng viễn đông của Liên Bang Nga khoảng lưng chừng độ cao 550Bắc.
Lạnh lùng và khô khan – đó chính là bản tính của chàng. Dù vốn dỹ tính cách đó không gây được thiện cảm của hầu hết dân cư trên Trái đất, nhưng chàng không có ý định vứt bỏ, chỉ là thay đổi chút ít mà thôi. Chặng đường đi dài hàng vạn km làm chàng mất bớt vốn năng lượng và sắc thái vốn có. Để khi đến được nhà các người đẹp, chàng Đông Bắc đã không ào ạt và lạnh lùng như ngày ra đi nữa. Tuy nhiên vốn quen sống ở xứ nóng, Bố mẹ và nàng Miền Bắc khi gặp chàng không ngừng xuýt xoa: Ôi lạnh quá, lạnh quá…!Ở đồng bằng còn đỡ, chứ nếu đi lên miền ngược Cao Bằng, Hà Giang hay triền cao Tây bắc thì càng xuýt xoa nhiều hơn: Đậm quá, hại quá…!
Nếu như Tín Phong chỉ làm cho nàng Miền Bắc trở nên nóng và khô khan ở chừng mực nhất định, phô bày ra cái kém duyên của mình, đó là ăn mặc khá cởi mở, mặt mày nhăn nhó, thở than cái nỗi lo thiếu nước thì chàng Đông Bắc này lại làm cho Miền Bắc trở nên nữ tính hơn bao giờ hết. Bỗng chốc nàng ấy trở nên khiêm nhường, e ấp, ăn mặc kín đáo, ít ra ngoài, tâm trạng thay đổi hẳn, từ hoạt bát, ồn ào trở nên suy tư, trầm lắng, thậm chí có chút yếu đuối, lãng mạn…! không khéo nàng còn suốt ngày làm thơ, viết văn, hát hò thương nhớ, ngợi ca người mới đến nếu như ta gặp nàng ngay chính thủ đô Hà Nội.
Sao chàng Đông Bắc lại có được khả năng chinh phục con gái giỏi như vậy, mà cụ thể đây là nàng Miền Bắc vốn rất kiên định? Có lẽ nguyên nhân là ở chỗ chàng có “nghệ thuật tán gái”. Sự lạnh lùng, cao ngạo vốn dĩ đã là một cá tính hấp dẫn đàn bà con gái của cánh đàn ông, nhưng chưa phải tất cả. Điểm hấp dẫn của chàng chính là không ở lại lâu, giống kiểu ở lỳ như Tín Phong. Đông Bắc, chàng ấy, chỉ thường ở chơi 2 đến 3 ngày, nếu lâu là  5  7 ngày nếu như có sự tiếp viện bởi anh em nhà chàng, nhưng điều này hiếm rồi là tạm biệt, hẹn gặp bố mẹ và em lần sau! Cháu còn bận làm ăn! Em à, anh bận lắm …! Chưa kịp thân quen thì đã vội ra đi, chuyện còn dài, tâm tư còn lắm nỗi… Ôi ! Còn gì hấp dẫn hơn một người đàn ông mạnh mẽ, lạnh lùng, si tình từ nơi xa xôi cất bước tìm đến nhưng lại không quên sự nghiệp của bản thân ?
Mỗi năm một mùa, trong khoảng thời gian từ thàng XI dương lịch của năm trước đến tháng IV năm sau, cứ như vậy chàng Đông Bắc không ở chơi liên tục cứ đi đi về về với mỗi đợt 2 hoặc 3 ngày,  đến 4 ngày như vậy. Tính ra, mỗi năm, tức mỗi mùa tán tỉnh yêu đương, có trung bình 20 đợt chàng đi về.
Vào giai đoạn đầu, chàng thường đi một mình, hướng đi chủ yếu trong miền lục địa thẳng từ Xibia của Liên Bang Nga, qua hết chiều dài miền Đông Trung Quốc để đến với gia đình Việt Nam. Về sau, trên đường đi, chàng rủ theo những người bạn quen biết dọc đường, đó là áp cao Hoa Bắc và Hoa Trung – những thanh niên mới lớn của nhà Trung Quốc đi cùng. Và đường đi có thay đổi chút ít, lệch về phía đông nhiều hơn, tức về phía biển.
 Chàng tung hứng nếm và ngậm vào mình một lượng hơi nước đáng kể dọc đường đi ngang qua biển Hoa Đông. Cho nên vào giai đoạn sau của (mùa tán gái) quãng từ tháng 2 trở đi, ta thấy Đông Bắc trở nên khác trước, bớt khô khan. Mỗi khi chàng về đến thường mang theo mưa phùn, mưa xuân lất phất đi theo và bớt lạnh. Vì vậy gương mặt chị gái Miền Bắc không còn toát lên vẻ trong sáng như giai đoạn đầu. Nàng giận vì Đông Bắc có vẻ như không chung tình như Tín Phong( mặc dù rất chung tình với mấy chị em).
Thực ra Đông Bắc không phải không muốn bắt cá mấy tay như Tín Phong, nhưng gặt nỗi đường xa tốn sức, lại gặp phải ông cụ Bạch Mã chắn ngang lối đi, nên chàng cũng không cố được để vào với các em trong kia. Nhưng đàn ông mà, thi thoảng năm nào đó, đợt nào đó, chàng trai Đông Bắc cầm lòng không được nên đã cố hết sức liếc mắt vào. Nhưng giỏi lắm chỉ thấy được cái lưng của Trường Sơn Nam nơi được gọi là Duyên Hải Nam Trung Bộ. Nhưng chả ăn thua gì, chả động lòng rung cảm mãnh liệt như chị Miền Bắc đâu. Còn cái… ngực. cái bụng của Trường Sơn Nam thì đành chịu. Những nơi đó thuộc hẳn về Tín Phong và Tây Nam. Với kiểu thoắt đến, thoắt đi, thay đổi tính tình và mang theo cả bạn bè, mây mưa như vậy… thì Đông Bắc không làm cho Tín Phong trở nên mờ nhạt mới là lạ. Cữ hễ Đông Bắc về là Tín Phong chỉ còn cách im miệng ngồi lui về một góc, chẳng ai ngó đến nữa. Lúc đó, Tín Phong chỉ có Nam Bộ và Tây Nguyên là vẫn yêu chàng tha thiết, khóc hết nước mắt, trở nên khô héo vì yêu.
Tín Phong cứ chờ thời điểm Đông Bắc cất bước ra đi là chàng ý lại thò mặt ra làm loạn. Khi đó, nàng Miền Bắc lại trở lại tính nết cổ hữu: Ồn ào, nóng nảy, ăn mặc phong phanh, nói cười bỗ bã, thoắt cái biến ra ngoài bia bọt như đàn ông, mặt mũi lại mồ hôi, bụi bặm…
3.     Chàng gió Tây Nam( gió mùa mùa hạ)
Chứng kiến cảnh hai chị gái xinh đẹp Tây Nguyên và Nam Bộ mỗi ngày khô héo đi như vậy, đau lòng quá. Chàng thiếu niên Tây Nam nhà ở khu Áp cao Bắc Ấn Độ Dương vốn trong lòng đã mến mộ hai chị từ lâu, liều lĩnh vượt lên bờ, chạy ngược lên phía bắc, mang theo những thùng nước lớn với nỗi khát khao nhanh chóng làm dịu mát, trả lại sức khỏe và nhan sắc lộng lẫy cuốn hút ngày nào cho hai chị. Thật tội, tình cảm sôi nổi nhưng sức lực có hạn.
Thông thường vào tháng 5 dương lịch hàng năm, nhưng cũng có khi ngay giữa tháng 4, tình thế hiểm nghèo, trước nguy cơ chết khát của hai chị phương bắc bởi tình yêu vị kỷ, cố chấp của Tín Phong đã không cho phép Tây Nam Bắc Ấn Độ Dương chần chừ, mà vội vàng phóng bước. Chàng đưa đến sự sống, trả lại nhan sắc, sức khỏe và đưa đến niềm hân hoan to lớn cho nàng Tây Nguyên và Nam Bộ. các nàng reo mừng nhảy múa "ôi mưa vàng, mưa vàng…". Còn nàng Tây Nam Bộ thì những thùng nước của chàng thiếu niên Tây Nam đưa đến giúp nàng gội rửa những giọt nước mặn chát bám trên gương mặt nàng. Thoáng chốc gương mặt nàng đã ngọt ngào, tươi trẻ trở lại.
Nhưng Tín Phong là thanh niên lớn, lại lỳ lợm, đâu đã vội chịu thua Tây Nam niên thiếu ! chưa kể thật tội nghiệp cho cô em gái yếu đuối mỏng manh khiêm nhường nép sau vách nhà Trường Sơn là nàng Duyên Hải Miền Trung và cả cô em gái bé bỏng Tây Bắc thấp bị khuất sau dãy hàng rào ngăn cách giữa nhà ông bà Việt Nam và nhà ông bạn Lào. Hai nàng đó không nhón lên nổi để nhận quà của Tây Nam thiếu niên ( gọi là Tây Nam em). Tây Nam em cố trèo sang, quà là các túi nước mát lạnh như kem thì ta chảy mất tiêu, còn lại hơi thở nằng nề khô khan, nóng rực của chàng phả vào mặt hai nàng một cách rất  táo bạo. Hai thiếu nữ nhăn mặt, bật quạt, hắt nước liên tục như cố tình xua đuổi chàng vì giận hờn, trách móc, ghen tỵ với các chị bên kia.
Tây Nam em sau một hời gian chạy đi chạy về như vậy cũng kiệt sức, lại nhận được cái nhìn thiếu thiện cảm của các em gái bé bỏng, tự lượng thấy một mình không thể cứu nổi các chị em nhà họ, vậy nên chàng quyết định cầu cứu người anh trai cùng tên sinh ra và lớn lên nơi Châu Úc xa xôi tít tận phương Nam  đến giúp mình ( gọi là Tây Nam anh)
Nhận được tin khẩn từ em trai, Tây Nam anh vội vã thu xếp, cũng may vừa trùng với kỳ nghỉ đông nên rất thuận lợi. Với sức vóc của một thanh niên trưởng thành, cùng sự nuôi dưỡng cầu kỳ bởi sữa cừu ướp lạnh nên chàng rất khỏe mạnh..
Quãng đầu tháng 7, chàng lên đường, chả mấy chốc chàng vượt qua đại dương mênh mông vùng Xích đạo đổi hướng đi từ Đông Nam thành Tây Nam khi vượt qua vòng vĩ tuyến phân chia Trái đất thành hai nửa, một mạch tiến về thôn Đông Nam Á nơi có nhà của ông bà Việt Nam lắm con gái đẹp đang gặp nạn tình yêu. Từ đây đường đi của chàng rất thuận lợi, chả mấy chốc đã gặp nàng Nam Bộ và Tây Nguyên. Ôi ! Mưa, mưa như trút, liên tục, có khi cả ngày trời cho thỏa lòng yêu mến với người đẹp và cho bõ lòng ghen tuông với… tình địch Tín Phong, Ngày nào cũng mưa, đó là những thùng nước lớn mà Tây Nam chính thức mang về làm quà cho các người yêu trong mộng của em trai, và từ đó về sau, họ là vợ, hay người tình, là người bạn tâm giao của chàng Tây Nam chính thức.
Còn với Duyên Hải miền Trung và Tây Bắc thấp, thêm cả đồng bằng Sông Hồng, các nàng ý nghe tin Tây Nam anh đã đến cũng hy vọng tràn trề, nóng lòng nhắn tin thúc giục, mời gọi. Đường sang, đường vào đều khó, nhưng là người của xứ văn minh hiện đại, chẳng lẽ lại chịu bó tay như em trai họ quê Nam Á ? Tây Nam thầm nghĩ vậy. Không lâu sau đó chàng nghĩ ra cách đi vòng sang phía đông, tiến đến gặp các em theo hướng Đông Nam từ biển đông đi vào để tặng quà cho được. Muốn yêu cô chị phải lấy lòng các cô em. Chàng thật ga lăng, hào phóng,  thông minh. Món quà tặng cho Tây Bắc thấp có tên là ‘ Mưa rào mùa hạ’, quà cho Đồng Bằng Sông Hồng có tên là ‘Mưa ngâu’, còn quà cho Duyên Hải Miền Trung có tên là ‘Mưa dông’. Quà cho Duyên Hải có chậm đôi chút sang chừng thu – đông vì chàng lo tặng quà các em ở xa trước. Chàng đi theo hướng Đông Nam mà đến  nên ở nơi các cô em này, họ lại gọi chàng theo cách gọi của nếp nhà Việt Nam đó là Đông Nam. Chả sao, dù gọi là thế thì chàng cũng chính là Tây Nam chính thức.
Vậy đấy, chàng gió Tây Nam chính thức rất tuyệt vời phải không ? Tình cảm bao la, quà cáp không tiếc, có trước có sau không sót một ai, sức khỏe dồi dào, tư duy năng động, tác phong hồ hởi…Vì vậy chàng được cả gia đình ông bà Việt nam, cả thông Đông Nam Á yêu mến. Gọi tên chàng là gió mùa Tây Nam và là rể chính thức.
Một lần nữa, Tín Phong lại bị ra rìa. Tín Phong - chàng thanh niên có tình cảm sâu đậm nhưng vị kỷ, lại sai phương pháp chỉ còn nước chờ Tây Nam chính thức kết thúc kỳ nghỉ đông, trở lại quê nhà tiếp tục việc học tập đang dang dở, để rồi lại làm cho nhà ông bà Việt Nam lo thiếu nước.

 Ôi tình yêu của Tín Phong thật khó chịu. Nhưng cũng lỡ quen rồi, ở lâu khách mà giống như người nhà vì vốn dĩ cũng nóng ( giống tính cách ông nhà Việt Nam). Chàng giống như con trai nuôi vậy. Nếu Tín Phong vừa nóng, vừa ấm lại ở lại thường xuyên như vậy, chắc nhầm là con trai ruột của nhà Việt Nam.
Gv: Phan Thị Minh Thu (St) - NCM Địa lý

Giới thiệu một số câu hỏi ôn tập phần địa lý tự nhiên Việt Nam

07:14 |

I. GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÂU HỎI
Câu 1: Phân tích những thuận lợi và khó khăn do vị trí địa lí mang lại đối với tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng ở nước ta.
Câu 2: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, nêu đặc điểm chung của địa hình Việt Nam.
Câu 3: Nêu những điểm khác nhau về địa hình giữa hai vùng núi Đông Bắc và tây Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.
Câu 4: So sánh đặc điểm của hai đồng bằng châu thổ ở nước ta.
Câu 5: Em thích định cư ở miền núi hay đồng bằng? Vì sao?
Câu 6: Biển Đông có ảnh hưởng như thế nào đến khí hậu, địa hình và các hệ sinh thái ven biển nước ta?
Câu 7: Biển Đông đã mang lại cho nước ta những thuận lợi và khó khăn gì trong đời sống và sản xuất?
Câu 8: Vì sao khí hậu nước ta lại mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa?
Câu 9: Trình bày hoạt động của gió mùa ở nước ta và hệ quả của nó đối với sự phân chia mùa khác nhau giữa các khu vực.
Câu 10: Vì sao địa hình, sông ngòi, đất, sinh vật nước ta lại mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa? Biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa qua các thành phần này như thế nào?
Câu 11: Nêu đặc điểm của mỗi miền địa lí tự nhiên. Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng tự nhiên của mỗi miền?
Câu 12: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy so sánh sự khác nhau về tự nhiên giữa miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ của nước ta.
Câu 13: Trình bày hoạt động và hậu quả của bão ở Việt Nam. Nêu một số biện pháp phòng chống bão.
II. GỢI Ý TRẢ LỜI MỘT SỐ BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VÀ PHÂN TÍCH BẢNG SỐ LIỆU
1. Bài tập 1/SGK lớp 12 – nâng cao (trang 44)
– Yêu cầu bài: Nhận xét về sự thay đổi nhiệt độ từ Bắc vào nam và giải thích nguyên nhân.
– Cách làm: Nên nhận xét theo từng cột dọc của bảng số liệu và kết hợp giải thích nguyên nhân ngay sau mỗi ý nhận xét
Không nên: Nhận xét hết các cột rồi mới giải thích nguyên nhân. Nếu làm như vậy, khi giải thích sẽ phải nhắc lại các ý đã nhận xét và rất có thể bị thiếu ý.
– Cụ thể: nhận xét và giải thích về cột Nhiệt độ trung bình năm trước, sau đó lần lượt đến cột Nhiệt độ trung bình tháng I và tháng VII:
    + Nhiệt độ trung bình năm tại các địa điểm từ Bắc vào Nam đều cao hơn 200C và có sự tăng dần từ Bắc vào Nam. Nguyên nhân: do vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến và lãnh thổ hẹp ngang, dài theo chiều Bắc Nam nên từ bắc vào nam, vĩ độ giảm dần, càng gần xích đạo, góc nhập xạ trung bình năm càng lớn vì thế nhiệt độ trung bình năm tăng dần.
    + Nhiệt độ trung bình tháng I cũng tăng dần từ Bắc vào Nam. Từ Lạng Sơn đến Huế, nhiệt độ trung bình tháng I không vượt quá 200C (nguyên nhân: ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, càng vào phía nam, ảnh hưởng này càng yếu đi). Từ Đà Nẵng vào đến TP. Hồ Chí Minh, nhiệt độ cũng tăng dần và trên 200C (nguyên nhân: ảnh hưởng của gió tín phong đông bắc)
    +Nhiệt độ trung bình tháng VII rất cao, trên 270C, từ Bắc vào Nam có sự thay đổi qua các địa điểm như sau:
    Từ Lạng Sơn đến Huế: nhiệt độ tăng dần (do góc nhập xạ cũng tăng dần và chịu ảnh hưởng của hiệu ứng Phơn do gió Tây nam từ Bắc Ấn độ dương gây ra). Lạng Sơn nhiệt độ thấp hơn Hà Nội do nằm ở vĩ độ cao hơn và có địa hình cao hơn. Huế nóng nhất do ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào khô nóng.
    Đến Đà Nẵng, nhiệt độ thấp hơn Huế do Huế bị chặn bởi một bên là dãy Trường Sơn Bắc, một bên là dãy Bạch Mã nên ảnh hưởng hiệu ứng phơn sâu sắc của gió Tây Nam.
   Từ Đà Nẵng đến Quy Nhơn, nhiệt độ lại tăng dần, Quy Nhơn nóng nhất cả nước (29,70C), đến TP Hồ Chí Minh nhiệt độ lại giảm xuống còn 27,10C. Mặc dù TP. Hồ Chí Minh gần xích đạo hơn nhưng lúc này là mùa mưa lớn do ảnh hưởng của gió Tây Nam nên làm giảm bớt nhiệt độ. Đà Nẵng và Quy Nhơn nằm phía Đông của dãy Trường Sơn Nam nên tháng 7 là mùa khô, nóng hơn.
2. Bài tập bảng 2 (trang 144 giáo trình Địa lý - 2015)
– Yêu cầu: So sánh, nhận xét và giải thích về lượng mưa, lượng bốc hơi và cân bằng ẩm của Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh.
– Cách làm: tương tự như bài 2 ở trên.
– Cụ thể:
– Lượng mưa: Chỉ ra nơi nào mưa nhiều nhất, nơi nào mưa ít nhất (dẫn chứng số liệu). Giải thích vì sao?
– Lượng bốc hơi: Chỉ ra nơi nào bốc hơi nhiều nhất, nơi nào bốc hơi ít nhất (dẫn chứng số liệu). Giải thích vì sao?
Cân bằng ẩm (hiệu số giữa lượng mưa và lượng bốc hơi): Kết hợp từ hai ý nhận xét trên để rút ra nhận xét về cân bằng ẩm của mỗi địa điểm.
Gv: Phan Thị Minh Thu - NCM Địa Lý

Hướng dẫn ôn tập Địa lý chuyên đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam

06:49 |

I. NỘI DUNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Nội dung: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ
· Vị trí địa lí:
· Phạm vi lãnh thổ: gồm ba vùng: vùng đất, vùng trời và vùng biển (SGK)
2. Nội dung: Đặc điểm chung của tự nhiên
a/ Đất nước nhiều đồi núi
· Đặc điểm chung của địa hình: SGK rất ngắn gọn, rõ ràng.
· Khu vực đồi núi:
- Vùng núi: 4 vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.
–  Vùng bán bình nguyên và đồi trung du: Vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, cao khoảng 100 – 200m: Đông Nam Bộ, rìa đồng bằng sông Hồng…
· Khu vực đồng bằng: ¼ diện tích, gồm 2 loại: đồng bằng châu thổ và đồng bằng ven biển.
· Ảnh hưởng của thiên nhiên các khu vực địa hình trong phát triển kinh tế – xã hội
b/ Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
· Khái quát về biển Đông:
· Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam
c/ Thiên nhiên nhệt đới ẩm gió mùa
· Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa:
– Tính chất nhiệt đới: nêu biểu hiện (tổng bức xạ, cân bằng bức xạ, nhiệt độ trung bình năm, tổng số giờ nắng) và nguyên nhân.
– Lượng mưa, độ ẩm lớn: nêu biểu hiện (lượng mưa trung bình năm, độ ẩm không khí, cân bằng ẩm) và nguyên nhân.
– Gió mùa: nêu nguyên nhân, thời gian, nguồn gốc, hướng gió, tính chất của gió, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiết đặc trưng của gió mùa mùa đông, gió mùa mùa hạ
–   Sự phân mùa khí hậu:
+ Miền Bắc: Mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.
+ Miền Nam: Mùa khô và mùa mưa rõ rệt
+ Tây Nguyên và ven biển Trung Bộ có sự đối lập về mùa khô và mùa mưa.
· Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của các thành phần tự nhiên khác:
d/ Thiên nhiên phân hóa đa dạng
· Thiên nhiên phân hóa theo Bắc – Nam:
– Nguyên nhân: Lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ độ nên khí hậu có sự thay đổi theo vĩ độ.
– Đặc điểm tiêu biểu về khí hậu, cảnh quan của phần lãnh thổ phía Bắc và phía Nam (SGK)
· Thiên nhiên phân hóa theo Đông – Tây
– Nguyên nhân: Địa hình nước ta cao ở phía Tây và thấp dần về phía Đông; ảnh hưởng của các dãy núi hướng Tây Bắc – Đông Nam; ảnh hưởng của biển Đông.
– Đặc điểm tiêu biểu về thiên nhiên của 3 dải: vùng biển và thềm lục địa, vùng đồng bằng ven biển, vùng đồi núi. (SGK)
· Thiên nhiên phân hóa theo độ cao:
– Nguyên nhân: do sự thay đổi của khí hậu theo độ cao
–  Đặc điểm tiêu biểu của 3 đai: đai nhiệt đới gió mùa, đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi, đai ôn đới gió mùa trên núi.
·  Các miền địa lí tự nhiên: dựa vào SGK và Atlat Địa lí Việt Nam, tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của 3 miền theo gợi ý sau:
 3. Nội dung: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên
a/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
b/ Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai
· Bảo vệ môi trường: có 2 vấn đề quan trọng nhất trong bảo vệ môi trường ở nước ta: tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường và tình trạng ô nhiễm môi trường. (Học sinh nên hệ thống kiến thức theo gợi ý dưới đây)
· Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống:
· Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường: bảo vệ đi đôi với phát triển bền vững
                                                                                        Gv: Phan Thị Minh Thu - NCM Địa Lý


Tổng kết cuộc thi viết báo tường mừng xuân Bính thân

06:54 |
       Hưởng ứng phong trào thi đua mừng Xuân Bính Thân 2016, ngày 23/3/2015, nhóm giáo viên dạy học Tiếng Việt tổ chức tổng kết cuộc thi viết báo tường với chủ đề “Báo Xuân” cho học sinh khối A,B. Đây cũng là hoạt động nằm trong kế hoạch chuyên môn học kì II của nhóm chuyên môn Ngữ Văn
Với mục đích giúp học sinh trau dồi kiến thức về phong cách chức năng ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản và thể hiện tư duy sáng tạo, nhóm giáo viên tổ chức cuộc thi viết báo tường mừng xuân Bính Thân từ ngày 22/2/2016 đến ngày 23/3/2016 cho học sinh các lớp khối A,B. Mỗi tờ báo yêu cầu phải có bài viết sử dụng các phong cách chức năng ngôn ngữ: phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ báo chí.
Cuộc thi nhận được sự hưởng ứng và tham gia của 10 lớp K41A, K41A1, K41A2, K41A3, K41A10, K41B1, K41B2, K41B3, K41B4, K41B5. Để đảm bảo tính khách quan, 5 thành viên tham gia Ban giám khảo là học sinh của những lớp không có đội dự thi. Nhóm giáo viên đóng vai trò Ban cố vấn.

Hình ảnh ban tổ chức và đại diện học sinh các lớp tham gia tọa đàm
 Nội dung các bài viết đều bám sát chủ đề, sử dụng đúng đặc trưng ngôn ngữ và các phương tiện diễn đạt trong các phong cách chức năng, bài viết phong phú, đa dạng. Tuy nhiên một số bài viết theo phong cách ngôn ngữ hành chính và phong cách ngôn ngữ báo chí chưa đạt yêu cầu. Một số bài báo còn sai lỗi chính tả, dùng từ chưa đúng nghĩa, đôi chỗ diễn đạt lủng củng. Báo tường của các lớp K41B1, K41B3, K41A10 đạt điểm cao về nội dung.
Về hình thức: Mỗi tờ báo mang một ý tưởng riêng, độc đáo và sáng tạo. Nhiều đầu báo được trang trí, kẻ vẽ công phu, bố cục hợp lý, trình bày sạch sẽ, chữ viết đẹp (K41B1,K41A10, K41B5). Bên cạnh đó cũng có những lớp trình bày báo chưa đẹp, thiếu tính hấp dẫn, thiếu khuông nhạc, hòm thư góp ý.
Về phần thuyết trình: Đại diện các lớp đều nêu được ý tưởng tờ báo. Phong cách thuyết trình tự tin, diễn đạt lưu loát. Những lớp đạt điểm cao phần thuyết trình là K41B5, K41A10.
Hình ảnh  báo tường của các lớp đạt giải 

       Kết thúc cuộc thi Ban tổ chức đã trao 1 giải nhất (lớp K41B1), 1 giải nhì (lớp K41B3), 1 giải ba  (lớp K41A10) và 2 giải khuyến khích (lớp K41B4, K41B5).

Hình ảnh đại diện các lớp nhận giải
         Cuộc thi được tổ chức vào Tháng Thanh niên - tháng diễn ra rất nhiều hoạt động kỉ niệm 85 năm thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, song với tinh thần làm việc chủ động, tích cực của  nhóm giáo viên và học sinh, buổi nghiệm thu sản phẩm của cuộc thi đã diễn ra đúng kế hoạch.
          Thành công của cuộc thi viết báo tường lần này một lần nữa khẳng định định hướng đúng đắn của Ban giám hiệu nhà trường trong việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học và cũng tạo niềm tin và động lực cho nhóm giáo viên tiếp tục thực hiện các kế hoạch chuyên môn tiếp theo.
                                                                                     Nhóm GV thực hiện

TỔNG KẾT CUỘC THI VIẾT THƯ VỚI CHỦ ĐỀ NGHỀ MÀ EM MUỐN CHỌN

18:04 |
                 Sau thành công của hai dự án học tập: Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và Tìm hiểu về Từ Hán Việt, nhóm giáo viên dạy học Tiếng Việt tiếp tục thực hiện dự án học tập thứ ba: tổ chức cuộc thi viết thư với chủ đề nghề mà em muốn chọn.
                 Với mong muốn giúp học sinh có những định hướng đúng đắn về nghề nghiệp cũng như cung cấp kiến thức về ngữ pháp tiếng Việt và rèn kỹ năng tạo lập văn bản, nhóm giáo viên dạy học tiếng Việt đã tổ chức cuộc thi viết thư với chủ đề Nghề mà em muốn chọn trong 3 tuần (từ ngày 21/12/ 2015 đến ngày 6/1/2016). Học sinh viết một bức thư dài không quá 1000 từ, thể hiện những suy nghĩ về nghề mà mình muốn chọn để làm việc và cống hiến suốt đời. Bài viết phải sử dụng được 3 kiểu câu (câu bị động, câu có trạng ngữ chỉ tình huống, câu có khởi ngữ), 4 biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê, chêm xen). Đối tượng dự thi là toàn thể học sinh khóa 41. Cuộc thi đã nhận được sự ủng hộ và tham gia tích cực của tất cả các lớp học sinh. Ban tổ chức đã nhận được 659 bài dự thi. Nhìn chung các bài viết đều bám sát chủ đề, đúng thể loại, văn viết có cảm xúc, mạch lạc.Nhiều em đã có suy nghĩ chín chắn khi chọn nghề, song nhiều em còn chưa có định hướng rõ ràng trong việc chọn nghề, chọn theo số đông, chọn nghề dễ xin việc, nghề có thu nhập cao,... Các bài dự thi cũng phản ánh xu hướng chọn nghề của giới trẻ hiện nay, phần đông đều chọn nghề thuộc nhóm ngành Sức khỏe, Công an, Quân đội, Luật. Các bài dự thi đạt yêu cầu trong việc sử dụng 3 kiểu câu và 4 biện pháp tu từ chiếm tỷ lệ ít. Nhiều học sinh còn nhầm lẫn ẩn dụ và hoán dụ, giữa phép liệt kê và lặp cú pháp, , xác đinh trạng ngữ chỉ tình huống chưa chính xác.
                  Kết quả :
- Giải nhất: Triệu Thanh Tuyền (K41C1) 
- Giải nhì: Phượng Thị Hương Giang (K41D1), Đinh Thị Thu Trang (K41A1), Hoàng Thị Nguyệt (K41A2), Trương Cao Thiên (K41A4), Tô Phương Thảo(K41A4) Trần Văn Diện (K41D2), Hứa Thị Ngọc Bích (K41D1). 
- Giải ba: Vi Hoàng Đức (K41Á5), Linh Thị Loan (K41C4), Ma Thị Cần (K41B5), Đàm Thị Ngân (K41A4), Nông Ngọc Chinh (K41C3), Phí Ngọc Diễm (K41A2), Quan Ngọc Thành (K41C3), Triệu Thị Dương (K41B2), Vi Thị Lan (K41B4), Dương Thị Hòa (K41D2).
 - Giải khuyến khích: Nguyễn Thị Mai Lan (K41B5), Hoàng Thu Hoài (K41A3), Hoàng Thị Thanh Lam ( K41A2), Cần Ngọc Minh (K41B2), Nguyễn Quỳnh Nga(K41D1), Sầm Thị Trà (K41A3), Trần Thanh Thảo (K41B1), Lục Quốc Huy (K41A5), Trần Hồng Hạnh (K41D1), Nông Hoàng Thái Hưng (K41A). 
- Giải trình bày đẹp: Hoàng Thị Lan (K41C3)
- Giải tập thể: lớp K41D1. 

                                             ( Ảnh trao thưởng cho học sinh đạt giải)

                     Thông qua cuộc thi này, ban tổ chức mong muốn các em học sinh sẽ có những định hương đúng đắn cho mình trong việc chọn nghề nghiệp tương lai. Trong cuộc sống nghề nào cũng cao quý, cũng đáng tự hào và công việc nào cũng có thể mang lại thành công nếu như mình tận tâm và cố gắng hết mình đề làm việc. Không nên chạy theo số đông, chọn công việc không phù hợp với khả năng của mình. Cuộc thi viết thư với chủ đề Nghề mà em muốn chọn là dự án thứ 3 của nhóm giáo viên dạy học tiếng Việt và cũng là dự án kết thúc học kì I trong kế hoạch dạy học của nhóm. Những kết quả bước đầu đạt được trong học kì I là động lực để nhóm giáo viên tiếp tục triển khai các dự án học tập tiếp theo trong học kì II của năm học 2015 - 2016.
                                                                                                                 Nhóm giáo viên thực hiện
Được tạo bởi Blogger.