MỘT SỐ BÀI VIẾT VỀ CÁC TƯ LIỆU ĐỌC HIỂU ÔN TẬP NGỮ VĂN HỌC KÌ II NĂM HỌC 2015-2016

10:19 |
MỘT SỐ BÀI VIẾT VỀ CÁC TƯ LIỆU ĐỌC HIỂU
--------------------




            ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀI HÁT VÀ BÀI THƠ KHÚC HÁT SÔNG QUÊ
                                                                                             Lê Huy Mậu
Như nhiều người đã biết, khúc hát sông quê là một chương trong trường cathời gian khắc khoải tôi viết vào năm 2002. Khi viết xong trường ca này, tôi cũng tâm đắc lắm, có đưa cho một số người xem, có người bảo được, người bảo chưa được. Xong tôi vất bản thảo vào đâu đó không đoái hoài gì đến nó nữa. Cuối tháng 8 năm 2002, nhà thơ , nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo vào Vũng tàu dự trại sáng tác của Hội âm nhạc Việt nam, tôi có gửi cho anh 5 bài thơ ( trong đó có bài khúc hát sông quê) để anh chọn in vào báo thơ của Hội nhà văn. Bấy giờ là một buổi chiều xâm xẩm tối, tôi và anh có đi uống rượu do một người quen cuả Nguyên Trọng Tạo mời. Anh ở phòng số 306 thì phải.? Do anh cũng đã uống lừng xừng rồi nên tôi đặt tập bản thảo trên bàn viết rồi về. Sáng hôm sau, vào khoảng 8 giờ, Nguyễn Trọng Tạo gọi điện hỏi tôi ăn sáng chưa, ra đây ăn sáng. Gặp tôi, anh nói ngay, phổ được bài thơ của Mậu rồi, để mình hát thử cho Mậu nghe nhé! Tôi thấy anh cầm một tờ giấy mới ký âm nguệch ngoac, anh lấy giọng hai ba lần mới hát. Thú thật là, ngay câu đầu tiên của bài hát : Quá nửa đời phiêu dạt/ con lại về úp mặt vào sông quê đã khiến tôi thấy bồi hồi, xúc động rồi. Rồi những câu tiếp theo, rồi cả bài hát được Nguyên Trọng Tạo hát trọn vẹn, không ngắc ngứ chỗ nào cả. Đến điệp khúc của bài hát thì chính Nguyễn Trọng Tạo cũng đã tự nhập đồng vào bài hát rồi. Sau này, anh bảo tôi nghe xong thì đực mặt ra, và bảo, anh làm tôi nổi tiếng đến nơi rồi! Đó là anh nói thế, chứ thực ra, không phải chỉ có tôi, mà Nguyễn Trọng Tạo  cũng thật sự bị lời ca, bị giai điệu của bài ca của chính mình làm cho ngây ngất trong phút giây sau đó. Ngày ấy, tôi đang bị rối loạn tiền đình nặng, nghe xong bài hát tôi nằm vật ra giường, không phải chỉ do xúc động về bài hát mà cả do tiền đình chóng mặt lúc nào cũng muốn nằm. Hình như lúc ấy tôi có bình luận gì đó, nhưng có nói câu như anh Tạo nói không thì không còn nhớ!  Tôi và Nguyễn trọng Tạo có trao đổi qua về một số tình tiết của bài hát, ví như: Nguyễn Trọng Tạo có bảo tôi, câu thơ của Mậu là qua nửa đời phiêu dạt nhưng vào bài hát thành ra quá nửa đời, nhưng anh bảo, như thế có khi lại hóa hay, và anh nhắc đi nhắc lại câu mở đầu khi qua, khi quá mấy lần. Còn một câu anh bảo tiếc lắm mà không làm sao đưa vào được, đấy là câu cá dưới sông cũng có tết như người. Một vài chỗ nữa anh cũng cân nhắc từ ngữ  rất kỹ như câutừng vị heo may trên má em hồng,  câu thơ là ta nếm vị heo may trên má em hồng, anh khen chữ nếm hay, nhưng vào bài hát phải thế thôi!
 Trước khi bài hát được đài truyền hình Việt nam tổ chức giới thiệu trong chương trình tác phẩm mới do ca sĩ Anh Thơ trình bày, hôm bế mạc trại, ca sĩ Thanh Phong của đoàn ca múa Bà rịa- Vũng tàu cũng đã hát bài khúc hát sông quê, và ngay lúc đó anh và cả tôi nữa đã nhận đươc nhiều cảm tình của người nghe về bài hát đó.
Mỗi tác phẩm đều có đời sống riêng của nó. Sau này, khi bài hát đã dành được sự mến mộ của những người yêu âm nhạc rồi, có nhiều bạn đọc đã tìm đọc nguyên tác bài thơ khúc hát sông quê của tôi. Ai cũng biết rằng, âm nhạc đã chắp cánh cho bài thơ đến được với đông đảo người xem. Một cách công bằng, không phải khiêm tốn, khúc hát sông quê là một tuyệt phẩm âm nhạc của Nguyễn Trọng Tạo, phần thơ,  nhiều lắm là. bài thơ của tôi, trước hết là nó tạo ra được một xúc động ban đầu cho Nguyễn Trọng Tạo, nhắc nhớ ( tôi nhắc lại, nhắc nhớ chứ không phải là nhắc nhở) hồn quê trong anh, và vì vậy, bài hát mới thực sự gây được sự cộng hưởng sâu rộng trong lòng độc giả nhiều vùng miền trong cả nước.
          Tính đến nay, bài khúc hát sông quê đã được 13 tuổi. Cùng với ca khúc khúc hát sông quê, bài thơ của tôi cũng được xuất bản nhiều lần, được đưa lên một số trang web trong và ngoài nước. Nhân ngày thơ Việt nam lần thứ tám (2010), tác giả bài thơ được hân hạnh đọc nguyên bài thơ trên diễn đàn thơ Văn miếu Quốc Tử Giám!  Tôi và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đươc đón tiếp hết sức trọng thị tại Diễn Châu quê anh và Thanh Chương quê tôi. Nhiều tấm lòng của bạn đọc, bạn nghe đài dành cho Nguyễn Trọng Tạo và tôi xúc động không sao kể xiết. Bạn bè, người thân của tôi ở quê, bạn bè lính Trường Sơn xưa, bạn bè văn nghệ, cũng đã dành cho Nguyễn Trọng Tạo và tôi sự quý mến, thân tình hiếm có. Tuy không phải lúc nào cũng ngây ngất trong “ vinh quang” mà nhiều khi cũng thật mệt mỏi về nó.
          Những lúc thanh vắng, trầm tĩnh nhất, tôi thường đọc lại bài thơ khúc hát sông quê của mình, không phải để tự sướng , mà để tự biết, tự đặt câu hỏi và có cả để củng cố sự tự tin vào bài thơ của mình , nhưng,  thành thật mà nói, cái mình làm được trong bài thơ, theo tôi, là không phải mình làm thơ, mà chính là để thơ nó làm mình, nó quy định ngôn ngữ biểu đạt, nó dẫn dắt mình theo trật tự, theo triết lý của nó.
         
Cảm ơn nhà thơ- nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã cho tôi có được vinh dự từ bài hát này!





NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ BÀI THƠ 'LÁ ĐỎ'


Lựa lúc công việc của ông vừa dứt, tôi xin đăng ký được gặp ông vài chục phút về bài thơ Lá đỏ. Ông lưỡng lự một lúc rồi như thông cảm với vẻ mặt cầu khẩn của tôi, rồi nói nhẹ nhàng, ôn gtồn và dứt khoát: sáng thứ hai vậy nhé. Đầu giờ, nhớ đinh ninh lời hẹn, sáng thứ hai tôi đứng sẵn ở cầu thang máy vào lúc 8 giờ kém 5 phút. Chờ cho ông vào trong phòng nghỉ ngơi một chút rồi tôi nhẹ nhàng gõ cửa.

 Lá đỏ

Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường
như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.
                                          1974.

 Ông nhìn tôi như chưa nhớ ra việc gì. Tôi vội nhắc:
- Dạ, sáng nay theo lời hẹn ông dành cho ít phút cho bài thơ Lá đỏ. Ông nhớ ra và nói: Việc này thì Phạm Tiến Duật cũng biết rõ. Nói vậy nhưng ông vẫn chỉ chiếc ghế cho tôi ngồi và tôi hiểu phải thật nhanh chóng thực hiện “chương trình” kẻo có khách vào lại phải hoãn không biết đến bao giờ. Vậy là tôi bắt ngay vào việc.

Phóng viên: Thưa ông! Lá đỏ là bài thơ được nhiều người ưa thích, xin ông vui lòng cho bạn đọc biết hoàn cảnh ra đời và cảm xúc lớn nhất của ông khi viết bài thơ? Vì sao bài thơ không thể mang một cái tên khác?

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi: mùa thu năm 1974 tôi cùng các anh Tế Hanh, Đinh Đăng Định, Phạm Tiến Duật đi trên một chiếc xe vào Trường Sơn. Đang đi trên đường bỗng thấy một anh bộ đội cứ giơ hai tay ra hiệu cho xe dừng lại và chỉ lên trời. Chúng tôi vội xuống xe và nhảy ra ngoài, lăn xuống một hẻm núi, Một tiếng nổ vang trời, chiếc xe tan tành. Thật không ngờ tất cả chúng tôi đều sống sót. Sau đó chúng tôi lại tiếp tục đi bộ. Trên đường thấy nhiều bộ đội kéo pháo, xe tải người đi nườm nượp vội vã hối hả. Tôi hiểu sắp có một trận đánh lớn. Vậy mà tôi thấy có rất nhiều phụ nữ, nhiều những em gái trẻ trung mảnh mai đứng ở những nơi nguy hiểm, dẫn đường cho xe qua suối, hoặc qua những quãng đường khó.

Ở nơi bom đạn chiến trường ác liệt ấy tôi không thể nghĩ lại có nhiều phụ nữ tham gia như vậy. Tôi nhớ hồi chống Pháp cũng thế, dân công trở gạo, trở vũ khí, đạn dược rồi y tá, đa phần là phụ nữ. Họ ra tận chiến hào cúng bộ đội đánh giặc. Có lẽ tôi chưa thấy ở đâu trong cuộc chiến tranh ái quốc, người phụ nữ lại tham gia đông đảo, hồn nhiên, dũng cảm và lạc quan như ở Việt Nam. Đó là cảm xúc lớn nhất tạo nên thi hứng sáng tạo của bài thơ, tôi đã viết:

Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa

Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường.

Vượt qua nhiều chặng đường nguy hiểm, chúng tôi đến những cánh rừng giáp Lào, tôi thấy rừng mùa thu ở đây toàn lá đỏ. Rất lạ và rất đẹp. Tôi nhặt một chiếc lá ép vào cuốn sổ và tối đó tôi viết bài thơ Lá đỏ. Bài thơ được đọc lần đầu ở Cục Chính trị Tây Nguyên.
Phóng viên: Vậy là bài thơ đã có mặt kịp thời ở chiến trường trong giai đoạn ác liệt nhất, để sau đó ta có chiến thắng lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Như một nhu cầu tất yếu về đời ssóng tinh thần của những người lính, bài thơ được phổ nhạc và hát rất nhiều, rất rộng rãi, kỷ niệm của ông về bài ca đó?

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi: Tôi không nhớ bài thơ đó được phổ nhạc khi nào. Chỉ biết nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc. Sau sáu tháng đi bộ vào các tỉnh Mỹ Tho, Tiền Giang, Long An… tôi sáng tác được một số bài thơ và trở ra bắc. Sau chiến thắng năm 1975, tôi thắy người ta hát rất nhiềubài Lá đỏ và bài Trường Sơn đông Trường Sơn tây của Phạm Tiến Duật.
Phóng viên: Thưa ông chặng đường cách mạng mà ông đi qua đến giờlà gần 60bnăm và chặng đường sáng tác của ông cũng đã qua hơn 50 năm. Điều tâm đắc nhất ông có thể tâm sự với thế hệ trẻ, đặc biệt là với những người cầm bút?

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi: Tôi tham gia hoạt động cách mạng năm 1941, năm 1946 tôi về công tác tại Hội văn hóa Cứu quốc cùng với Văn Cao và Nguyễn Tuân. Sau đó tôi vào hẳn trong quân đội thuộc trung đoàn thủ đô 102. Qua những năm chiến tranh ở chiến trường của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, tôi chứng kiến sự hy sinh vô cùng lớn lao của dân tộc ta. tôi nghĩ tất cả những gian khổ màg tôi đã trải qua và cả những khó khăn trong cuộc sống hôm nay cũng không đáng kể gì bởi tôi vẫn đang được sống, còn bao nhiêu ngừi mẹ, người chị, người em, bao nhiêu đồng đội, đồng chí của tôi đã vĩnh viễn không trở về. Lại còn bao nhiêu ngừi phải chịu hậu quả của cuộc chiến tranh như chất độc màud da cam đã hủy hoại cuộc ssóng của các con, cháu họ. Còn biết bao những ngừi phụ nữ chịu đựng nhiều mất mát, hy sinh, những cô gái thanh niên xung phong chịu tàn tật cả đời mình, không hạnh phúc riêng… Sự hy sinh của dân tộc ta lớn lắm, ý thức dân tộc của người Việt Nam ta lớn lắm. Đó là món nợ mà những người cầm bút phải trả. (Điều đó giải thích vì sao hầu hết các tác phẩm của tôi viết đều về đề tài chiến tranh).
Ở thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay, trong đời thường, chỗ này, chỗ khác, có thể ý thức dân tộc bị xao nhãng xong tôi vẫn luôn tin rằng: dân tộc ta gặp phải một thử  thách nào (đơn giản là tai họa lũ lụt vừa qua) thì ý thức dân tộc trong mỗi ngươi Việt Nam lại bùng lên, kết lại thành sức mạnh cảu truyền thống nhân văn. Họ đặt quyền lợi tập thể lên trên lợi ích cá nhân mình. ….. viết vở Rừng Trúc vừa rồi không ngoài ý tưởng đó. Từ sâu thẳm của nhận thức, người Việt Nam ta hiểu rằng lợi ích cá nhân không khi nào toàn vẹn khi lợi ích của dân tộc bị xâm hại.

Tôi nghĩ người cầm bút có thể viết và cống hiến cho xã hội tùy theo khả năng của mình, nhưng cần phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của bao người để có được ngày hôm nay, và sống xứng đáng với ý thức dân tộc, với truyền thống văn hóa ngàn đời của người Việt Nam.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông. Chúc ông nhiều sức khỏe.

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

-----------------
ĐÔI CHI TIẾT VỀ BÀI THƠ TRƯỜNG SƠN ĐÔNG - TRƯỜNG SƠN TÂY

. Nhà thơ PHẠM TIẾN DUẬT

VNQĐ online: Bài viết này được cố nhà thơ Phạm Tiến Duật viết khi ông còn sống, với những kỉ niệm nhỏ xung quanh bài thơ nổi tiếng "Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây". VNQĐ online xin trân trọng giới thiệu lại cùng bạn đọc:
Bài thơ Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây tôi sáng tác hồi cuối năm 1969 tại một làng nhỏ bên bờ sông Son của tỉnh Quảng Bình, làng Cổ Giang, một làng nghèo khó mà nền nếp. Cái làng ấy ở không xa nơi cổng đường 20 xe ngang dãy núi Trường Sơn. Thấm thoát đã gần ba mươi năm rồi. Tuổi đất, tuổi người dài ra cũng ối chuyện mà tuổi tác phẩm – của bất kỳ ai – dài ra cũng không ít chuyện. Từ nhiều năm nay, trong các băng nhạc Karaoke có chạy bài hát cùng tên phổ thơ tôi do nhạc sĩ Hoàng Hiệp làm nhạc. Câu thơCái gạt nước xua đi nỗi nhớ của bài thơ ấy được băng hình đánh chữ làCái gạt nước xua tan nỗi nhớ. “Xua tan” như thế thì còn gì là tình yêu. Băng hình không chỉ “xua tan” nỗi nhớ mà còn “xua tan” cả thơ ca nữa. Lỗi ấy của người làm băng chứ không phải của nhạc sĩ. Cũng phải nói thêm rằng những người làm băng ấy vi phạm bản quyền, phớt lờ tác giả. Câu chuyện ấy chỉ làm tôi buồn cười chứ lạ sao không thấy bực mình. Thì văn hóa tới đâu thì làm tới đó, chứ biết làm sao. Mà họ có làm văn hóa đâu, họ làm kinh tế đấy chứ. Một thời ngỡ tưởng gần mà đã hóa ra xa.
Ở bài hát, Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây là một bản tình ca trong chiến tranh. Một anh, một chị yêu nhau trong xa cách. Còn ở tác phẩm thơ, yếu tố tình ca trộn lẫn với quân ca. Có tám dòng thơ nhạc sĩ không phổ. Ở khổ thứ hai từ trên xuống. Một dãy núi mà hai màu mây/Bên nắng bên mưa khí trời cũng khác/Như anh với em như Nam với Bắc/ Như đông với tây một dải rừng liền. Và ở khổ thứ hai từ dưới lên: Đông sang tây không phải đường thư/Đường chuyển đạn và đường chuyển gạo/ Đông Trường Sơn cô gái ba sẵn sàng xanh áo/ Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh. Như vậy, trong thơ không chỉ có hai người mà còn có hai lực lượng. Ba chữ như ở đoạn trên nói rằng đây chỉ là ví dụ mà thôi. Âm nhạc viết theo thể hát nói trữ tình đã cộng hưởng rất đẹp với thơ.
Cả bài thơ, như đã nói, làm xong cuối năm 1969, nhưng hai dòng đầu tiên thì có trước đó gần hai năm. Bây giờ, nhận vật tạo hứng cho thơ đang sống ở Hà Nội, một họa sĩ đã thành danh. Hồi ấy, anh ta yêu một cô y tá ở phía đông Trường Sơn. Ngồi chung một ca-bin xe đi sang phía tây, suốt đường anh ta nhắc đến người yêu. Nỗi nhớ của anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa, cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên: Anh lên xe trời đổ con mưa/Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ.
Bài thơ được viết sau nhiều chặng đường vượt rừng gian nan. Cho đến nỗi, nếu chưa từng ở rừng, vượt rừng thì khó bề thông cảm hết với thơ ấy, bài ấy. Chẳng hạn như câu này: Nước khe cạn, bướm bay lèn đá không phải là một câu thơ tả đẹp mà là một quan sát đáng run sợ của lính trinh sát. Nếu thấy cảnh ấy vào lúc chập chiều thì cầm chắc là đói vì không thể có nước nấu cơm. Mười cây số vuông quanh đí không thể có nguồn nước. Hay là câu này: Muỗi bay rừng già cho dài tay áo, một bạn Việt kiều và một nhà thơ Pháp đã dịch là Muỗi bay, mọi người mặc áo măng tô vào thì thật buồn cười. Họ không đi lính thì trách sao được.


Bây giờ, đọc lại nghe lại, như một người ngoài cuộc vô cảm tôi vẫn thấy trong lòng bồi hồi. Từ nhiều năm nay thật nhiều bài thơ người ta gọi là thơ tình, nhiều ca khúc người ta gọi là tình ca. Nhưng sao nghe chỉ thấy tán tỉnh, có lúc tán tỉnh đến thô lỗ. Thấy quá nhiều sự ích kỷ nhuộm vào các câu chữ. Nhớ lại thời ấy, không phải để tự khen mìn và đồng đội của mình mà rưng rưng cảm động. Hình như, không yêu được số đông người thì cũng khó mà yêu lấy một người. Sự ích kỷ với thiên hạ có chứa lực phản.
Không, không chỉ một tôi viết Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây mà cả con muỗi, con bướm, cái gạt nước, ngọn măng rừng và đồng đội của chúng ta cùng viết.

----------------
Thứ bảy, 15/3/2014 | 11:59 GMT+7
‘Hương thầm’ - ký ức về mùa hoa bưởi năm ấy
Bài hát được phổ nhạc từ thơ của Phan Thị Thanh Nhàn đã trải qua 30 năm tồn tại nhưng vẫn tỏa hương bền bỉ như một trái tim mang khát vọng hòa bình và yêu thương.
Có những loài hoa trở nên bất tử vì một bài thơ hay một bài ca. Đó là “hoa sữa” của nhạc sĩ Hồng Đăng, “màu tím hoa sim” trong thơ của Hữu Loan, “hoa sứ nhà nàng” trong nhạc của Hồng Phương… Tất nhiên khi điểm danh sách ấy, không thể quên “hoa bưởi” trong Hương thầm của nhạc sĩ Vũ Hoàng, phổ thơ Phan Thị Thanh Nhàn.
Bưởi là một thứ cây phổ biến ở nhà quê. Cây dễ trồng, dễ chăm sóc, quả lại rất lành. Đến tháng ba, khi “mưa xuân phơi phới bay”, cũng là lúc bưởi ra hoa. Đầu làng, cuối xóm, bỗng đâu ngào ngạt hương thơm. Đó là thứ hoa âm thầm đến lạ, chưa thấy hình đã thấy hương, còn chưa kịp thấy bóng hoa, người đã ngây ngất vì mùi thơm thanh khiết.
Người xưa chơi hoa thường chuộng hương hơn chuộng sắc. Bởi thế những thứ hoa rực rỡ như mẫu đơn, hải đường, phù dung, thược dược… vẫn thường bị các cụ chê là “hữu sắc vô hương”, giống như người đàn bà đẹp mà không có duyên. Hoa bưởi thì ngược lại, “hữu hương vô sắc”: hương thơm thì vô cùng nhưng dáng hình lại mộc mạc.
Hoa có năm cánh đầy đặn, trắng muốt; uốn cong cong về phía cuống, khoe nhụy vàng thơm phức. Hoa bưởi một khi đã nở, ít khi nở vài bông hay vài chùm, mà thường nở một loạt, nở cả cây. Khắp những vòm lá xanh tươi là những chùm bông trắng tinh ẩn hiện. Hoa bưởi giản dị lắm nhưng lại quyến rũ như người thôn nữ có duyên ngầm.
Trước Phan Thị Thanh Nhàn, hoa bưởi đã xuất hiện trong ca dao và nhiều nhất là trong thơ Nguyễn Bính. Nhiều người vẫn thuộc câu ca “Trèo lên cây bưởi hái hoa” hay những dòng tươi thắm tả cảnh mùa xuân “Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng – Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng” (Nguyễn Bính). Nhưng phải đến Phan Thị Thanh Nhàn, hoa bưởi mới trở thành nhân vật chính trong một bài thơ.
Bài thơ ấy mang tên Hương thầm, tác giả sáng tác để tặng người em ruột tên là Phan Hữu Khải. Hồi ấy nhà bà ở Yên Phụ, trong sân có cây bưởi, cứ độ tháng ba về là hương thơm ngào ngạt. Em trai bà thường nhặt hoa rụng và hái hoa tươi cho vào túi để chị xách đi làm.
Ở lớp, có một bạn gái có vẻ rất gắn bó gần gũi với Khải nhưng anh không hay biết, chỉ có người chị đa cảm là để ý. Rồi anh lên đường đi bộ đội, ở chiến trường có lần được nghe Đài tiếng nói Việt Nam ngâm bài thơ, anh viết thư về kể cho chị. Phan Thị Thanh Nhàn chưa kịp hồi âm bà sáng tác bài thơ ấy từ chuyện của anh thì anh đã hy sinh. Anh ngã xuống mà không hề biết rằng mình đã được chị gái tặng riêng cho một bài thơ.
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn từng chia sẻ trên báo: “Hương thầm cứ lặng lẽ, đến người đưa tiễn cũng không hay biết, ngay cả khi nằm xuống đất lạnh rồi vẫn không hay biết”.
Hương thầm sau đó được giải nhì cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ năm 1969. Đến năm 1984, bài thơ được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc, như được chắp thêm đôi cánh để càng vươn xa hơn đến mọi miền của tổ quốc.
Hương thầm bắt đầu bằng hình ảnh những khung cửa để ngỏ. Hai người bạn “thanh mai trúc mã” lớn lên bên nhau với cây bưởi là chứng nhân lặng lẽ:
“… Khung cửa sổ hai nhà cuối phố
Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ,
Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa…”
Nhà phải có cây bưởi mới biết hoa bưởi hữu dụng đến mức nào. Hoa bưởi được người ông đem ướp với trà để đãi khách những mùa sau. Người bà tần tảo đem hoa bưởi ướp với mía lùi làm quà ngon cho các cháu. Những ngày nóng nực, người mẹ đem hoa bưởi rắc lên bát chè đậu đen ngọt lành. Người chị để hoa trong vuông khăn giắt trong túi áo hoặc cài lên mái tóc để làm điệu.
Trẻ con dùng chỉ xâu qua những đóa hoa để kết thành vòng tay, vòng cổ xinh xắn. Lại có khi hoa được giắt lên mái đầu khi các em chơi trò cô dâu chú rể. Chàng trai và cô gái nhà bên có lẽ đã lớn lên với những kỷ niệm dịu ngọt từ những mùa hoa bưởi đi qua như thế.
“… Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Bên ấy có người ngày mai đi xa…”
Những rung động đầu đời chưa kịp gửi trao thì chàng trai đã phải ra trận, “xếp bút nghiên theo nghiệp binh đao”. Ở một mùa hoa bưởi khác trong thơ của Tô Hùng một cuộc biệt ly như thế cũng đã diễn ra:
“Mỗi mùa xuân thơm lừng hoa bưởi
Rắc trắng vườn nhà những cánh hoa vương
Em lại nhớ ngày xưa anh ra trận
Cũng giữa mùa hoa bưởi ngát hương”
“Của tin gọi một chút này làm ghi”, cô bé hái một chùm hoa bưởi, giấu trong khăn tay định tặng người ra trận. Chỉ một từ “ngập ngừng” thôi mà như diễn tả được bao nét ngại ngùng, bẽn lẽn của người thiếu nữ dịu dàng.
“Nào ai đã một lần dám nói
Hương bưởi thơm cho lòng bối rối
Cô bé như chùm hoa lặng lẽ.
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu”.
Thời ấy, tình yêu trong sáng lắm. “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Người thiếu nữ đoan trang e thẹn chẳng dám mở lời. Chàng trai, đứng trước cuộc sinh ly tử biệt, dù trong lòng có tình cảm cũng phải kìm nén, sợ nói ra nhỡ có bề gì, trở thành gánh nặng cho người ở lại.
Trong thơ của Phan Thị Thanh Nhàn, sự bối rối ấy được diễn tả rõ hơn: “Họ ngồi im không biết nói năng chi – Mặt chợt tìm nhau rồi lại quay đi”; “Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối – Anh không dám xin – Cô gái chẳng dám trao”.
Tình yêu thời chiến là thế: kín đáo, âm thầm nhưng không kém phần nồng nàn lãng mạn. Vì lý tưởng, họ sẵn sàng lên đường, ấp trong tim một khối tình chẳng bao giờ dám ngỏ. Có những người lính ngã xuống vẫn chưa từng một lần được yêu, chưa từng được nếm vị ngọt ngào của bờ môi thiếu nữ:
“Em ơi rất có thể
Anh chết trong chiến tranh
Đôi mươi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn”
(Hôn – Phùng Quán)
Nếu mùi hương hoa bưởi đã nói hộ tấm lòng người thiếu nữ, thì Hương thầm có thể coi là thay lời muốn nói của cả một thế hệ đã trải qua tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình nơi chiến trường:
“… Hai người chia tay nhưng chẳng nói điều chi
Mà hương thầm theo mãi bước người đi
Hai người chia tay sao chẳng nói điều gì?
Mà hương thầm vương vấn mãi người đi...”
Không một lời yêu nào được ngỏ, không một lời hứa hẹn nào được trao. Chỉ có những câu hỏi không lời đáp để lại bao xao xuyến trong lòng người nghe.
Tròn 30 năm Hương thầm được phổ nhạc, có rất nhiều ca sĩ đã thử sức với bài hát này. Nhưng có lẽ Bảo Yến là người thể hiện thành công hơn cả. Giọng hát của chị chân phương, mộc mạc, không luyến láy điệu đà như nhiều ca sĩ sau này, cũng giống như hoa bưởi không phô trương mà vẫn nồng nàn.
Người ta vẫn thương hoa bưởi vì để lại mùi hương rất lâu. Hoa đã tàn rồi mà trên tay, trong nếp áo, mái đầu của người hái hoa vẫn còn thoang thoảng mùi hương. Hương thầm cũng vậy, 45 năm thành hình dưới dạng bài thơ, 30 dưới dạng nhạc, vẫn tỏa hương bền bỉ như khát vọng tình yêu và hòa bình vẫn chẳng bao giờ thôi trăn trở trong tim người Việt.
Anh Trâm




Hướng dẫn ôn tập kiểm tra môn Ngữ Văn phần đọc hiểu học kì II năm học 2015-2016

10:03 |

I. MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CÂU HỎI ĐỌC HIỂU:
-         Phương thức biểu đạt?
-         Nội dung chính của bài/đoạn/ câu/hình ảnh?
-         Biện pháp tu từ?
-         Suy nghĩ về đoạn/câu/hình ảnh/từ ngữ,…

-         Đoạn/câu/hình ảnh/từ ngữ,…gợi cho anh/chị nhớ đến bài thơ, câu thơ, bài hát nào,…? do ai sáng tác?...
II. MỘT SỐ VĂN BẢN LÀM TƯ LIỆU ĐỌC HIỂU:
1.    VĂN BẢN 1:
Chương Khúc hát sông quê trích trong trường ca Thời gian khắc khoải
của Lê Huy Mậu

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che…
Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng chạp
Ôi! Phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể, mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành…
Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lươm mà thôi
lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng, ngọt bùi
ta và đất kết dao
lấy dòng sông làm lời thề non nước…
chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bôì rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta…
Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng…
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng ba…tháng năm… tháng chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng…
Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi- còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh…
Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm…
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!…

Nguồn trích: http://vanhaiphong.com/van-hai-phong-gioi-thieu/126-khuc-hat-song-que-le-huy-mu.html
--------------------
2.     VĂN BẢN 2:
               Lá đỏ
                                                Nguyễn Đình Thi
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường như quê hương
Vai ác bạc quàng súng trường.

Ðoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa.

Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn.

Em vẫy cười đôi mắt trong.

                            (Trường Sơn, 12/1974) 
Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
---------------------

3.     VĂN BẢN 3:
Trường Sơn đông, Trường Sơn tây
                                               Phạm Tiến Duật
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông
Nước khe cạn bướm bay lèn đá
Biết lòng anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.

Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.

Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.

Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009
4.     VĂN BẢN 4:
Hương thầm


Khung cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ .
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa .

Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay ,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm ,
Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi ,
nào ai đã một lần dám nói ?

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin ,
Cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không dấu được cứ bay dịu nhẹ .

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu .

( Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấy ...)

Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
Hương thơm sẽ theo đi khắp

Họ chia tay
Vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi
                                                                                                  1969
Nguồn trích: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009

Một số câu hỏi minh họa và hướng dẫn trả lời câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học tập môn Lịch sử cho học sinh khi học phần lịch sử thế giới hiện đại

02:43 |
                    
                 Trong bài viết trước, chúng tôi đã đưa ra các năng lực học tập chuyên biệt môn Lịch sử và một số câu hỏi minh họa khi học lịch sử từ thời nguyên thủy đến cận đại. Để giúp các em ôn tập tốt hơn cho đợt kiểm tra định kì lần thứ hai, trong bài viết này, chúng tôi tiếp tục đưa ra những câu hỏi minh họa theo các năng lực và hướng dẫn trả lời các câu hỏi về nội dung lịch sử thế giới hiện đại. 
 1. Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật 
Câu 1. Trình bày hoàn cảnh và những quyết định quan trọng của Hội nghị Ianta (2/1945)? 
  Hướng dẫn trả lời:
 * Hoàn cảnh lịch sử: 
– Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra đối với các nước Đồng minh: + Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít Đức và Nhật. + Tổ chức lại trật tự thế giới mới sau chiến tranh. + Phân chia khu vực đóng quân theo chế độ quân quản ở các nước phát xít chiến bại và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các nước tham gia chiến tranh chống phát xít. – Từ ngày 4 đến ngày 11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại Ianta (Liên Xô) với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mĩ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên.
- Những quyết định quan trọng của Hội nghị: 
 Thống nhất việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật. 
Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới. 
Thoả thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.
 Câu 2. Nêu những thành tựu của nền kinh tế Tây Âu giai đoạn 1950 – 1973 và cho biết nguyên nhân đưa đến những thành tựu đó?
Hướng dẫn trả lời:
 * Thành tựu: 
 - Từ đầu những năm 50 đến đầu những năm 70 (thế kỷ XX), nền kinh tế các nước Tây Âu phát triển nhanh. Nước Đức trở thành nước công nghiệp thứ ba, Anh trở thành nước công nghiệp thứ tư, Pháp trở thành nước công nghiệp thứ năm trong hệ thống TBCN. 
 - Từ đầu thập kỉ 70, Tây Âu đã trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới. - Các nước Tây Âu có nền khoa học – kĩ thuật phát triển cao, hiện đại. - Quá trình liên kết khu vực ở Tây Âu diễn ra mạnh mẽ với sự hình thành Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) năm 1957 và Cộng đồng châu Âu (EC) năm 1967. 
* Nguyên nhân của sự phát triển: 
- Áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại.
 - Vai trò của nhà nước trong việc quản lí và điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế. 
- Tận dụng tốt cơ hội bên ngoài cho sự phát triển của đất nước. 
2. Năng lực xác định mối liên hệ, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng
Câu 1. Những quyết định của Hội nghị Ianta (2/1945) tác động như thế nào đến tình hình thế giới? Hướng dẫn trả lời: – Những quyết định quan trọng của Hội nghị và những thoả thuận sau đó trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới (trật tự hai cực Ianta). - Trên thế giới dần dần hình thành hai hệ thống xã hội đối lập: + Ở châu Âu: Tây Âu TBCN, Đông Âu XHCN; CHLB Đức TBCN và CHDC Đức XHCN. + Ở châu Á: Đại Hàn Dân Quốc TBCN và CHDCND Triều Tiên XHCN… 
Câu 2. Sau Chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Xu thế này tác động như thế nào đến Việt Nam? 
Hướng dẫn trả lời: 
- Toàn cầu hoá vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
 – Về mặt tích cực: thúc đẩy nhanh sự phát triển và xã hội hoá của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế…
 – Về mặt tiêu cực: làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo, đời sống của con người kém an toàn hơn…
  3. Năng lực so sánh, phân tích, khái quát hóa 
Câu 1. Phân tích nguyên nhân Xô – Mĩ chấm dứt Chiến tranh lạnh?
 Hướng dẫn trả lời: 
- Cuộc chạy đua vũ trang kéo dài bốn thập kỷ đã làm cho cả hai nước quá tốn kém và bị suy giảm thế mạnh trên nhiều mặt so với các cường quốc khác. 
- Sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản và Tây Âu… trở thành những đối thủ cạnh tranh đối với Mĩ. Còn liên Xô lúc này nền kinh tế ngày càng lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Liên Xô và Mĩ đều thấy cần phải chấm dứt Chiến tranh lạnh để có cục diện ổn định, đối thoại, cùng tồn tại hòa bình và phát triển. 
- Cuộc chiến tranh kinh tế toàn cầu đòi hỏi các nước cần chấm dứt Chiến tranh lạnh, chấm dứt chạy đua vũ trang để tập trung phát triển kinh tế…
 Câu 2. Phân tích những xu thế phát triển của thế giới sau Chiến tranh lạnh? 
Hướng dẫn trả lời: 
- Sau Chiến tranh lạnh, hầu như tất cả các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm. Xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. 
- Sau Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa các nước lớn được điều chỉnh theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp. Mối quan hệ giữa các nước lớn ngày nay mang tính hai mặt: mâu thuẫn và hài hòa, cạnh tranh và hợp tác, tiếp xúc và kiềm chế... 
- Sau Chiến tranh lạnh, hòa bình và ổn định là xu thế chủ đạo của tình hình thế giới. Tuy nhiên, ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột, nhiều nơi lại bộc lộ chủ nghĩa li khai, chủ nghĩa khủng bố.... 
- Sau Chiến tranh lạnh, thế giới đã và đang chứng kiến xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Đối với các nước đang phát triển, đây vừa là thời cơ thuận lợi, vừa là thách thức gay gắt trong sự vươn lên của đất nước. 
4.Năng lực nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử 
Câu 1. Em có nhận xét gì về Hội nghị Ianta (2/1945)?
 Hướng dẫn trả lời : HS trình bày theo ý kiến của mình theo định hướng sau:
 – Thực chất của Hội nghị Ianta là sự phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng giữa các nước Đồng minh, trụ cột là Liên Xô và Mĩ. Điều này cũng cho thấy sự chi phối của hai nước Liên Xô và Mĩ trong quan hệ quốc tế. 
– Những quyết định quan trọng của Hội nghị và những thoả thuận sau đó trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới (trật tự hai cực Ianta). Theo đó, thế giới được chia thành hai phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe, đối đầu gay gắt, làm cho quan hệ quốc tế luôn trong tình trạng phức tạp, căng thẳng.
 Câu 2. Từ sự phát triển của nền kinh tế Tây Âu, em hãy rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế? 
 Hướng dẫn trả lời: HS trình bày theo ý kiến của mình theo định hướng sau: - Áp dụng khoa học – kĩ thuật vào sản xuất. - Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế. - Tận dụng các yếu tố bên ngoài để phát triển (vốn, công nghệ, hợp tác trong tổ chức ASEAN)…
 5. Năng lực vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra 
Câu 1. Những biến đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh đặt ra yêu cầu gì đối với nước ta? Hướng dẫn trả lời: HS trình bày theo ý kiến của mình theo định hướng sau: 
- Đảng và Nhà nước phải vững mạnh, linh hoạt, đề ra đường lối phát triển đúng đắn cho đất nước. 
- Luôn chú trọng giữ gìn độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ gìn bản sắc văn hóa; giữ vững ổn định chính trị, an ninh xã hội. 
- Nắm bắt thời cơ, tạo sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước, nhất là về kinh tế. 
- Nỗ lực hợp tác với các nước để giữ gìn hòa bình thế giới… 
Câu 2. Là một công dân Việt Nam, để góp phần phát huy thời cơ và hạn chế thách thức của đất nước khi gia nhập ASEAN, em cần phải làm gì? 
Hướng dẫn trả lời: HS trình bày theo ý kiến của mình theo định hướng sau:
 - Nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. 
- Tích cực học tập, trau đồi tri thức khoa học, hiểu biết về tổ chức ASEAN và văn hóa của các nước trong khu vực. -
 Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giới thiệu văn hóa Việt Nam cho bạn bè ASEAN và thế giới… 
6. Năng lực thông qua sử dụng ngôn ngữ thể hiện chính kiến của mình 
Câu 1. Em có suy nghĩ gì về vấn đề sau khi trật tự hai cực Ianta sụp đổ, Mĩ có tham vọng thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực” ?
 Hướng dẫn trả lời:HS trình bày suy nghĩ theo một số định hướng sau:
 - Trật tự hai cực Ianta sụp đổ, cực Xô tan rã đã tạo cho Mĩ một lợi thế tạm thời. Mĩ vẫn là quốc gia có sức mạnh hàng đầu thế giới về kinh tế, quân sự nên ra sức thiết lập trật tự thế giới một cực để làm bá chủ thế giới. 
- Tuy nhiên, thế giới không chấp nhận một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt, nhất là trong tình hình hiện nay khi rất nhiều nước đang vươn lên mạnh mẽ về mọi mặt, vị trí hàng đầu của Mĩ đang bị lung lay. Mặt khác, chủ nghĩa khủng bố cũng là một trong những vấn đề đưa đến sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mĩ… 
Câu 1. Năm 2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập. Em hãy viết một đoạn văn khoảng 100 từ về những lợi ích mà người dân Việt nam được hưởng từ Cộng đồng này?
 Hướng dẫn trả lời: HS trình bày suy nghĩ theo một số định hướng sau: 
- Người dân Việt Nam được sống trong môi trường hòa bình, an ninh an toàn, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau. - Có nhiều lựa chọn về dịch vụ và hàng hóa với giá cả thấp và chất lượng cao hơn.
 - Có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm có tay nghề tại các nước ASEAN khác. - Có nhiều cơ hội học tập và nâng cao trình độ. - Đi lại thuận tiện hơn trong các nước ASEAN… 
 Chúc các em ôn tập tốt!

 GV Nguyễn Thị Thanh Hải -NCM Lịch sử

Hướng dẫn ôn tập kiểm tra định kỳ lần 2 môn Địa lý

02:51 |


1. Nội dung: Ý nghĩa của vị trí địa lý
2.  Ảnh hưởng của thiên nhiên các khu vực địa hình trong phát triển kinh tế – xã hội
3. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.
* Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa:
– Tính chất nhiệt đới: nêu biểu hiện (tổng bức xạ, cân bằng bức xạ, nhiệt độ trung bình năm, tổng số giờ nắng) và nguyên nhân.
– Lượng mưa, độ ẩm lớn: nêu biểu hiện (lượng mưa trung bình năm, độ ẩm không khí, cân bằng ẩm) và nguyên nhân.
– Gió mùa: nêu nguyên nhân, thời gian, nguồn gốc, hướng gió, tính chất của gió, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiết đặc trưng của gió mùa mùa đông, gió mùa mùa hạ.
-  Sự phân mùa khí hậu:
+ Miền Bắc: Mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.
+ Miền Nam: Mùa khô và mùa mưa rõ rệt
+ Tây Nguyên và ven biển Trung Bộ có sự đối lập về mùa khô và mùa mưa.
*Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của các thành phần tự nhiên khác:
4. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
5. Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống
Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường: bảo vệ đi đôi với phát triển bền vững.
6. Vấn đề lao động và việc làm:
6.1. Nguồn lao động
a. Mặt mạnh:
- Nguồn lao động rất dồi dào 42,53 triệu người, chiếm 151,2% dân số (năm 2005).
- Mỗi năm tăng thêm trên 1 triệu lao động.
- Người lao động cần cù, sáng tạo có kinh nghiệm sản xuất phong phú.
- Chất lượng lao động ngày càng nâng lên.
b. Hạn chế:
- Nhiều lao động chưa qua đào tạo
- Lực lượng lao động có trình độ cao còn ít.
6.2. Cơ cấu lao động
a. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế:
- Lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất.
- Xu hướng: giảm tỉ trọng lao động nông, lâm, ngư nghiệp; tăng tỉ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhưng còn chậm.
b. Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế:
- Phần lớn lao động làm ở khu vực ngoài nhà nước.
- Tỉ trọng lao động khu vực 1 ngoài Nhà nước và khu vực Nhà nước ít biến động, lao động khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng."
c. Cơ cấu lao động theo thành thị và nông thôn:
-  Phần lớn lao động ở nông thôn.
- Tỉ trọng lao động nông thôn giảm, khu vực thành thị tăng.
* Hạn chế.
- Năng suất lao động thấp.
- Phần lớn lao động có thu nhập thấp.
- Phúc lợi lao động xã hội còn chậm chuyển biến.
- Chưa sử dụng hết thời gian lao động.
6.3. Vấn đề việc làm và hướng giải quyết việc làm
a. Vấn đề việc làm:
- Việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội lớn.
- Năm 2005, cả nước có 2,1% lao động thất nghiệp và 8,1% thiếu việc làm, ở thành thị tỉ lệ thất nghiệp là 5,3%, mỗi năm nước ta giải quyết gần 1 triệu việc làm.
b. Hướng giải quyết việc làm:
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động.
- Thực hiện tốt chính sách dân số, sức khỏe sinh sản.
- Thực hiện đa dạng hóa các hoạt động sản xuất và dịch vụ.
- Tăng cường hợp tác, liên kết thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu.
- Mở rộng các loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
NCM Địa Lý

Hướng dẫn ôn tập kiểm tra định kỳ 2 môn Lịch Sử năm học 2015-2016

19:34 |
1. Quan hệ quốc tế
* Hội nghị Ianta ( 2/1945)
-  Trình bày hội nghị Ianta ( 2/1945)
-  Đánh giá tác động của Hội nghị đối với quốc tế và khu vực Đông Nam Á
* Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
-  Trình bày tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
          - Tại sao Xô- Mĩ chấm dứt chiến tranh lạnh
          - Chiến tranh lạnh kết thúc có tác động gì tới tình hình thế giới và khu vực
          + Tình hình thế giới nói chung
          + Đối với  khu vực Đông Nam Á
2. Đông Nam Á
          - Trình bày khái quát quá trình giành độc lập của nhân dân Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai
          - Tóm tắt quá trình ra đời và phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN).
          - Đánh giá vai trò của  tổ chức ASEAN (chú ý liên hệ ngày nay)
3. Tây Âu
          - Tóm tắt sự phát triển kinh tế của Tây Âu từ 1950-1973, nêu nguyên nhân sự phát triển
          - Trình bày quá trình hình thành và phát triển của liên minh châu Âu EU
          - Đánh giá vai trò của liên minh EU
4. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau 2/9/1945 đến trước 19/12/1946
          - Trình bày những thuận lợi và khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
          + Trình bày thuận lợi, khó khăn
          + Đánh giá thuận lợi, khó khăn
          - Nêu tóm tắt chủ trương, biện pháp của Đảng, Chính phủ nhằm giải quyết khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cách mạng tháng Tám
          - Nhận xét chung về chủ trương, biện pháp của Đảng, nhà nước sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Liên hệ với tình hình hiện nay.
         
Trên đây là định hướng nội dung ôn tập kiểm tra định kì lần 2 cho học  sinh khối C K41. Mọi thắc mắc các em có thể trao đổi trực tiếp tại đây. Chúc các em ôn tập tốt, đạt thành tích cao trong kì thi sắp tới!

 Nhóm chuyên môn Lịch Sử
Được tạo bởi Blogger.