ĐỊNH HƯỚNG ÔN TẬP ĐỊNH KỲ LẦN I MÔN ĐỊA LÝ NĂM HỌC 2015 – 2016

19:27 |

1.     Chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất và hệ quả của nó.
a)     Chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất.
·        Quỹ đạo
·        Hướng chuyển động
·        Vận tốc
·        Trục
·        Thời gian
·        Khái niệm năm thiên văn
b)    Hệ quả.
·        Chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt Trời
- Khái niệm thế nào là Mặt Trời lên thiên đỉnh
- Khái niệm thế nào là chuyển động biểu kiến
- Phạm vi Mặt Trời lên thiên đỉnh
·        Nhịp điệu mùa trong năm
- Khái niệm mùa
- Nguyên nhân sinh ra mùa
- Những loại mùa trên Trái Đất
·        Chênh lệch thời gian giữa các mùa
·        Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa, theo vĩ độ
2.     Sự phân bố khí áp và các đới gió.
a)     Sự phân bố các đai khí áp trên Trái Đất
·        Biểu hiện:
·        Nguyên nhân:
b)    Các đới gió
                  
Đặc điểm   
Gió 
Đông địa cực
Gió 
Tây ôn đới
Gió Mậu dịch
Phạm vi hoạt động




Thời gian hoạt động




Hướng gió




Tính chất






3.     Tuần hoàn nước trên Trái Đất.
a)     Các giai đoạn:
·        Bốc, thoát hơi
·        Nước rơi
·        Dòng chảy
·        Ngấm
b)    Các loại tuần hoàn
·        Tuần hoàn nhỏ
·        Tuần hoàn lớn
4.     Các nhân tố hình thành thổ nhưỡng.
a)     Đá mẹ và lớp vỏ phong hóa
- Vai trò, đặc điểm
- Giải thích vì sao đây là nhân tố quan trọng nhất?
b)    Sinh vật
c)     Khí hậu
d)    Địa hình
e)     Thời gian
f)      Con người

5.     Quy luật địa đới và phi địa đới.
                  
          Đặc điểm
Quy luật Địa đới
Quy luật Phi địa đới
Khái niệm



Nguyên nhân



Biểu hiện










Địa ô

- khái niệm

- nguyên nhân

- biểu hiện


Đai cao

- khái niệm

- nguyên nhân

- biểu hiện



Nhóm chuyên môn Địa lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO CUỘC THI VIẾT THƯ VỚI CHỦ ĐỀ NGHỀ MÀ EM MUỐN CHỌN

18:48 |
                     



1. Nghề là gì?
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (lương thực, thực phẩm, công cụ lao động,...) hoặc giá trị tinh thần (sách, báo, phim ảnh, âm nhạc...) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn, vì vậy người ta gọi là thế giới nghề nghiệp. Nghề luôn ở trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Theo thống kê gần đây trên thế giới mỗi năm có khoảng 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Ở nước ta mỗi năm ở 3 hệ trường (dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề và hàng nghìn chuyên môn khác nhau.
2. Phân loại nghề?
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tùy thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Mỗi người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm...
Việc phân loại nghề nghiệp khá phức tạp. Có ý kiến phân loại nghề theo các lĩnh  vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông, giáo dục,...), có ý kiến đưa ra cách phân loại nghề: nghề sáng tạo và nghề không sáng tạo. Nhiều ý kiến đồng tình với cách phân loại nghề theo yêu cầu của nghề đối với người lao động. Với cách phân loại này, các nghề được phân vào 8 lĩnh vực:
* Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính (nhân viên văn phòng, đánh máy, lưu trữ, kế toán, kiểm tra,...) đòi hỏi đức tính thận trọng, chu đáo, ngăn nắp, tỉ mỉ.
* Những nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người (nhân viên bán hàng, thầy thuốc, giáo viên, phục vụ khách sạn, cán bộ tổ chức,...) Những người này luôn phải có thái độ ứng xử hòa nhã, tế nhị, mềm mỏng, linh hoạt, cởi mở,..
* Những nghề thợ (công nhân) rất đa dạng:  người thợ làm việc trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lĩnh vực dịch vụ,... Người làm nghề này cần tác phong công nghiệp, tư duy kỹ thuật, trí tưởng tượng, khéo tay,..
* Những nghề trong lĩnh vực kỹ thuật: nghề kỹ thuật rất gần với nghề thợ. Đó là nghề của các kỹ sư thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất đòi hỏi lòng say mê với công việc thiết kế, vận hành kỹ thuật, nắm chắc tri thức khoa học, óc sáng tạo, năng lực tổ chức,...
* Những nghề trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật (nhà văn, nhà thơ, họa sỹ, ca sỹ, nhạc sỹ,...). Với nghề này, tính sáng tạo là đặc trưng nổi bật, người làm nghề cần có năng lực diễn đạt tư tưởng tình cảm, năng lực tác động đến người khác,...
* Những nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học (tìm tòi phát hiện những quy luật trong đời sống xã hội, trong thế giới tự nhiên cũng như tư duy con người). Người làm công tác nghiên cứu khoa học phải say mê tìm kiếm chân lý, ham học hỏi, tôn trọng sự thật, khách quan, tư duy logic, độc lập sáng tạo, khiêm tốn, trung thực, bảo vệ chân lý đến cùng.
* Những nghề tiếp xúc với thiên nhiên (chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng trọt, khai thác gỗ, ...), người chọn nghề này phải yêu thích thiên nhiên, cần cù, chịu khó và thích nghi với hoạt động ngoài trời,...
* Những nghề có điều kiện lao động đặc biệt (lái máy bay thí nghiệm, du hành vũ trụ, thám hiểm,..), những người làm nghề này phải có lòng quả cảm, kiên định, mạo hiểm, không ngại hy sinh, thích ứng với cuộc sống không ổn định,...
3. Những yêu cầu trong việc chọn nghề
+ Để có sự thành đạt trong nghề, con người phải chọn cho mình một nghề phù hợp. Trong xã hội ngày nay, số lượng nghề ngày càng tăng, con người không dễ dàng gì lựa chọn cho mình một nghề giữa hàng trăm nghề khác nhau.
+ Đề cập tới việc chọn được nghề phù hợp, trước hết ta phải làm rõ khái niệm phù hợp nghề. Sự phù hợp nghề được xem là sự hòa hợp, sự ăn khớp, sự tương xứng trong cặp “Con người - Nghề nghiệp”, mà cụ thể hơn, là sự tương ứng giữa những phẩm chất, đặc điểm tâm - sinh lý của con người với những yêu cầu cụ thể của công việc trong nghề đối với người lao động. Nói như vậy ta sẽ thấy ngay rằng, sự phù hợp nghề có nhiều mức độ. Thông thường, người ta chia thành 4 mức độ sau đây
- Không phù hợp: Sự không phù hợp có nhiều nguyên nhân như trạng thái sức khỏe, thiếu năng lực chuyên môn hoặc bị dị tật. Ví dụ muốn đi vào nghề hội họa, lái xe, nhuộm vải, sáng tạo “mốt” quần áo thì tối kỵ bệnh mù màu (không phân biệt màu xanh với màu đỏ). Muốn theo nghề thợ lặn, đi tàu biển hoặc lái máy bay thì nhất thiết không được mắc bệnh tim mạch, bệnh đường hô hấp… 
-  Phù hợp một phần: Ở mức độ này, nhiều phẩm chất, nhiều đặc điểm tâm - sinh lý của người lao động không đáp ứng được hết những yêu cầu do nghề đặt ra. Nếu chỉ phù hợp một phần thì con người rất khó trở thành một chuyên gia giỏi trong nghề
- Phù hợp phần lớn: Trong trường hợp này, những phẩm chất cá nhân đáp ứng được hầu hết các yêu cầu cơ bản của nghề hoặc của nhóm nghề. Mức độ phù hợp phần lớn thường thể hiện rất rõ ở hứng thú với công việc của nghề, ham thích và có năng lực giải quyết nhiều hoạt động kỹ thuật trong nghề. Có được sự phù hợp phần lớn này, con người sẽ thuận lợi trong phấn đấu trở thành người lao động có tay nghề cao hoặc dễ có được những thăng tiến nghề nghiệp so với những người ít phù hợp với nghề hơn
- Phù hợp hoàn toàn: Đạt tới mức độ này, ta thấy con người đáp ứng được tất cả những yêu cầu cơ bản do nghề đặt ra. Trong hoạt động nghề nghiệp, người lao động có năng suất cao, thể hiện rõ xu hướng hoạt động và lý tưởng nghề nghiệp
 + Sự phù hợp nghề thường thể hiện ở ba dấu hiệu:
- Bảo đảm tốc độ làm việc, tức là bảo đảm được yêu cầu về số lượng công việc theo định mức lao động. Người ta có thể đo, đếm được các động tác lao động để kết luận về sự phù hợp nghề
VD: Người hái chè mỗi ngày phải thực hiện khoảng 500.000 đến 600.000 vận động của ngón tay thì mới hái được lượng lá chè theo quy định. Người thợ dệt “nửa tự động hóa” phải đi “tua” mỗi ngày khoảng 6 km mới bảo đảm các máy chạy đều, kịp thời điều chỉnh máy và sửa chữa những hỏng hóc nhỏ
- Bảo đảm độ chính xác của công việc. Đây là yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Người lao động phải làm ra mặt hàng đúng quy cách, không có số lượng phế phẩm quá con số cho phép, không để công cụ lao động bị hư hỏng v.v
- Không bị công việc nghề nghiệp gây nên những độc hại cho cơ thể.
VD: làm việc ở nhà máy sơn thì không bị dị ứng sơn, làm công việc của thợ hàn mà không bị hỏng mắt, không vì lên lớp giảng nhiều lần mà bị viêm họng hoặc viêm phổi v.v…
  Cũng cần nói thêm rằng, có rất nhiều trường hợp người ta thấy không phù hợp với nghề, nhưng nếu yêu thích nghề mà quyết tâm rèn luyện thì sự phù hợp lại có thể được tạo ra. Tất nhiên có những chứng tật ngay từ đầu đã khẳng định về sự không phù hợp mà ta phải tuân thủ. Chẳng hạn, những bạn mắc chứng say xăng thì không được theo đuổi nghề lái xe, ai có chứng thấy máu mủ đã bị ngất thì tránh chọn nghề thầy thuốc, bị tật nói ngọng không chọn nghề dạy học.
+ Nghề trong xã hội hết sức đa dạng và những yêu cầu của nghề đặt ra cho người lao động cũng hết sức khác nhau. Ngoài những yêu cầu chung nhất là lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp… còn cần quan tâm tránh những khuyết tật của cơ thể. Hầu như các “thiếu sót” đó không hại gì đến sức khỏe, nhưng chúng lại không cho phép ta làm nghề này hay nghề khác. Ví dụ, với nghề thêu thủ công, chỉ cần hay ra mồ hôi ở lòng bàn tay là các bạn không thể làm tốt công việc kỹ thuật của nghề đó, mặc dù mồ hôi tay không làm cho bạn suy giảm thể lực. Nghề đòi hỏi đứng bên máy không cho phép tuyển người mắc tật bàn chân bẹt (sự tiếp xúc của bàn chân đối với mặt đất quá lớn
+ Có những nghề nhìn hình thức bề ngoài thì giống nhau, nhưng những yêu cầu để lao động thuận tiện với người lao động lại khác nhau. Ví dụ như công việc của người lái xe vận tải và người lái xe cần trục, cả hai đều cùng ngồi sau tay lái, điều khiển tốc độ xe luôn thay đổi và đòi hỏi người lao động không được mắc chứng mù màu, chứng ngủ gật, lại phải có phản ứng nhanh. Nhưng đối với lái xe cần trục, do xe cần trục khi nâng chuyển một khối lượng hàng lớn nên không được đỗ ở nơi có mặt phẳng nghiêng quá 3 độ vì nó rất dễ bị lật xe, người lái xe cần trục phải có năng lực bằng mắt để đánh giá độ nghiêng của mặt đất nơi đỗ xe thật chính xác và phải cảm nhận được tốc độ và hướng gió bằng da của mình, vì khi quay cần trục đang móc hàng phải tính đến tốc độ và hướng của gió. Chỉ với người có năng lực như vậy mới hạn chế được tai nạn khi cẩu một vật nặng
+ Nghề nào cũng yêu cầu người lao động phải chú ý vào công việc. Có nghề đòi hỏi người lao động phải tập trung sự chú ý vào một đối tượng (quan sát màn hình của máy vi tính…), nhưng có nghề cần ở người lao động sự phân phối chú ý đến nhiều đối tượng trong cùng một lúc (dạy học, huấn luyện phi công, điều độ ở ga…). Lại có nghề cần đến sự di chuyển chú ý, tức là nhanh chóng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác (lái xe, lái tàu, phiên dịch…). 
+ Nghề nào cũng yêu cầu con người có thể lực tốt, dẻo dai trong công việc. Song có nghề cần đến sự dẻo dai về cơ bắp, có nghề lại đòi hỏi sự dẻo dai của hệ thần kinh. Người công nhân bốc vác ở bến cảng phải liên tục bê vác nặng hay lái xe chuyển hàng nhiều giờ liên tục. Còn người nghiên cứu khoa học có khi phải đọc liền 10 giờ một ngày ở thư viện, hơn nữa việc đó thường kéo dài hàng tháng. Cả hai đều cần sức khỏe tốt, dẻo dai nhưng một bên dùng cơ bắp, bên kia dùng trí óc
Vậy, khi chọn nghề mỗi người chúng ta phải biết nghề có yêu cầu như thế nào đối với người lao động. Không có đủ những phẩm chất tâm lý và sinh lý để đáp ứng yêu cầu của một nghề cụ thể thì đừng chọn nghề đó.

VD: Người phản ứng chậm chạp không nên vào nghề lái xe, người tính quá hiếu động, không nên chọn nghề điều độ thông tin, giao thông, điện lực, qua hệ thống màn hình,...

                                                                                   NHÓM GIÁO VIÊN THỰC HIỆN

THỂ LỆ CUỘC THI VIẾT THƯ VỚI CHỦ ĐỀ:NGHỀ MÀ EM MUỐN CHỌN

18:38 |

Hưởng ứng chủ đề chuyên môn năm học 2015 - 2016, nhóm giáo viên dạy học tiếng Việt xây dựng kế hoạch tổ chức cuộc thi viết thư với chủ đề  Nghề mà em muốn chọn. Kế hoạch cụ thể như sau:
I. Mục đích, ý nghĩa
1. Tạo “sân chơi” lành mạnh, giúp học sinh khóa 41có cơ hội rèn luyện kỹ năng viết văn và thể hiện tư duy sáng tạo.
2. Giúp học sinh khóa 41 có định hướng rõ ràng về nghề mà các em sẽ lựa chọn.
II. Thể lệ cuộc thi
1. Đối tượng tham gia
Tất cả học sinh khóa 41
2. Về nội dung

Đề tài: “Hãy viết một bức thư  nói về nghề mà em muốn chọn”

          Bức thư được viết dưới dạng văn xuôi, thể hiện những suy nghĩ, tình cảm chân thật.
          Trong bức thư đó, em có thể trao đổi, hoặc bày tỏ quan điểm, mong muốn của mình về nghề mà em muốn chọn để làm việc, công hiến suốt cuộc đời.
Bức thư phải có người nhận. Có thể lựa chọn đối tượng nhận thư là cha mẹ, anh chị em, bạn bè, hoặc các thần tượng, lãnh tụ…, miễn sao đối tượng đó tạo được cảm xúc thật sự khi em viết thư.
3. Về hình thức
        - Bài thi là một bức thư viết dưới dạng văn xuôi (chưa đăng báo hoặc in sách), dài không quá 1000 từ.
          - Bài viết phải sử dụng được 3 kiểu câu (câu bị động, câu có trạng ngữ chỉ tình huống, câu có khởi ngữ), 4 biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê, chêm xen).
          Lưu ý: Gạch chân, chú thích dưới các câu văn đáp ứng yêu cầu trên.        
          - Bài viết rõ ràng, sạch sẽ, viết tay trên một mặt giấy A4 (bài đánh vi tính hoặc photocopy là không hợp lệ). Ở góc trên cùng bên trái, ghi đầy đủ: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, dân tộc, lớp)
          - Bài viết bằng tiếng Việt. Hành văn rõ ràng, mạch lạc và có cảm xúc. Khuyến khích những bài dự thi có cách trình bày sáng tạo.
4. Thời gian, địa điểm nhận bài dự thi:
- Thời gian phát động cuộc thi: Từ 21/12/2015 đến 4/01/2016
- Thời gian nhận bài dự thi: Ngày 5,6/01/2016
- Bài thi nhận theo đơn vị lớp.
- Nơi nhận bài thi: Tổ Bộ môn Xã hội (cô Nguyễn Thị Thùy Linh).
5. Cơ cấu giải thưởng
- Giải tập thể: 01 giải cho lớp có nhiều bài dự thi đạt giải cao: 200.000đ
- Giải cá nhân
 01 Giải Nhất: 100.000 đ/giải
 05 Giải Nhì: 80.000 đ/giải
 10 Giải Ba: 50.000 đ/giải
 15 giải Khuyến khích: 30.000 đ/giải
III. Tổ chức thực hiện
1. Ban tổ chức gồm:
- Đ/c Đặng Thị Tiên Phong -  trưởng ban
- Đ/c Nguyễn Phương Linh - ủy viên
- Đ/c Nguyễn Thị Thùy Linh - ủy viên
- Đ/c Dương Mai Phương - ủy viên
2. Ban Giám khảo gồm:
- Đ/c Bùi Tiến Dũng, Tổ trưởng TBM xã hội- trưởng ban
- Đ/c Trần Kim Anh, giáo viên Ngữ văn- ủy viên
- Đ/c Nguyễn Thị Thúy Hải, giáo viên Ngữ văn- ủy viên
- Đ/c Hà Thị Thu Hương, giáo viên Ngữ văn- ủy viên

                                                                                                                                 BAN TỔ CHỨC

























































Các năng lực chuyên biệt môn Lịch sử và một số câu hỏi minh họa theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trường DBĐHDTTƯ

17:52 |

   Trong xu thế đổi mới toàn diện của ngành giáo dục, từ năm học 2014 – 2015, Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương có chủ trương đổi mới phương pháp dạy học hướng vào người học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy năng lực học sinh. Năm học 2015 – 2016, Nhà trường tiếp tục thực hiện đổi mới đồng bộ hình thức tổ chức, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát huy năng lực người học. Theo tinh thần đó, trong kiểm tra đánh giá ở các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng, các câu hỏi đưa ra đều theo định hướng phát triển năng lực. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đưa ra hệ thống các năng lực chuyên biệt môn Lịch sử và một số câu hỏi minh họa theo định hướng phát triển năng lực để giúp học sinh có thêm định hướng đúng đắn và đạt kết quả tốt trong quá trình học tập môn Lịch sử.

Năng lực
Câu hỏi 1
Câu hỏi 2
Câu hỏi 3
Tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật
Nêu mốc thời gian xuất hiện người tinh khôn?

Nêu những đặc điểm của người tinh khôn?


Trình bày những nét chính về óc sáng tạo của người tinh khôn?
Thực  hành  với  đồ
dùng trực quan
Xác định trên lược đồ tên các cuộc phát kiến địa lý lớn thế kỷ XV – XVI?
Trình bày khái quát trên lược đồ diễn biến các cuộc phát kiến địa lý lớn thế kỷ XV – XVI?
Vẽ lược đồ về các cuộc phát kiến địa lý lớn thế kỷ XV – XVI?
Xác định mối liên hệ, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng
Sắc lệnh “Quốc hữu hóa đường sắt” (9/5/1911) của nhà Thanh đã trực tiếp đưa đến sự kiện gì trong Lịch sử Trung Quốc?

Cách mạng Tân Hợi (1911) có ý nghĩa như thế nào đối với đất nước Trung Quốc?
Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam?
So sánh, phân tích, khái quát hóa
Phân tích những tiền đề của cách mạng Tư sản Hà Lan?

So sánh những tiền đề của cách mạng tư sản Hà Lan và cách mạng tư sản Pháp?

So sánh các cuộc cách mạng tư sản ở Hà Lan, Anh, Pháp về các nội dung: mục tiêu, lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia, kết quả, tính chất. Từ đó hãy cho biết ý nghĩa chung của các  cuộc cách mạng tư sản nói trên đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại?
Nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử
Em có nhận xét gì về vua Hàm Nghi?
Nhà Việt Nam học nổi tiếng N. I. Nikulin người Nga từng nói về vua Hàm Nghi: “Vua Hàm Nghi có vị trí vinh dự trong lịch sử dân tộc, không chỉ vì cuộc đấu tranh cho tự do, chống lại chủ nghĩa thực dân, mà còn vì nền hội hoạ của Việt Nam…”.
Em có nhận xét gì về ý kiến trên?
Trên cơ sở trình bày những nhận xét của mình về vua Hàm Nghi, em hãy rút ra những bài học cho bản thân trong việc góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra
Trên cơ sở trình bày  về sách lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đối với quân Trung Hoa dân quốc và Pháp (1945 – 1946), em hãy liên hệ đến chủ trương giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông hiện nay của Đảng và Nhà nước ta?
Trình bày kết quả và ý nghĩa của chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950? Hãy liên hệ đến vấn đề bảo vệ biên giới Tổ quốc hiện nay.
Hãy kể tên những cuộc đấu tranh giành độc lâp dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta từ thế kỷ X đến thế kỷ XX. Để góp phần bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, là một học sinh, em cần làm những gì?
Thông qua sử dụng ngôn ngữ thể hiện chính kiến của mình
Nêu cảm nhận của em về đền Pác – tê – nông (Hi Lạp).



Phát biểu suy nghĩ của em về những công trình kiến trúc ở phương Tây cổ đại.

Viết một đoạn văn khoảng 200 từ đánh giá về những thành tựu văn hóa phương Tây thời cổ đại.

                                                                                                            Gv: Nguyễn Thị Thanh Hải



CUỘC THI TÌM HIỂU TỪ HÁN VIỆT

08:00 |

          Ngày 03/12/2015, cuộc thi Tìm hiểu từ Hán Việt cho một số lớp học sinh khóa 41 khối A,B của nhóm giáo viên dạy Tiếng Việt đã được tổ chức.
          Từ kết quả đã đạt được qua dự án dạy học “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt”, nhóm giáo viên (Đặng Thị Tiên Phong, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Thùy Linh, Dương Mai Phương) tiếp tục triển khai dự án dạy thứ hai học với tên gọi Từ Hán Việt trong cuộc sống. Cuộc thi Tìm hiểu từ Hán Việt nhằm đánh giá kết quả của dự án đã được các lớp học sinh hưởng ứng và tích cực tham gia.
          Tham dự cuộc thi có 5 đội đến từ 5 lớp: Đội Trạng nguyên (lớp K41A), Hi vọng (lớp K41A2), đội Sửu nhi (K41A3), Sức mạnh (K41B2), Trảm phong (K41B4). Để đảm bảo tính khách quan, 5 thành viên tham gia Ban giám khảo là học sinh của những lớp không có đội dự thi. Nhóm giáo viên đóng vai trò Ban cố vấn.
  (Hình ảnh ban giám khảo, ban cố vấn và các đội thi)
          Qua 3 phần thi, mỗi đội đã thể hiện những điểm mạnh của mình. Phần Giới thiệu của đội Hi vọng và đội Trảm phong khá hấp dẫn với những lời vè do học sinh tự sáng tác. Ba nội dung trong phần thi Hiểu biết (Đuổi hình bắt chữ, điền từ Hán Việt vào chỗ trống, sửa lỗi dùng từ Hán Việt) đã tạo không khí sôi nổi, ganh đua giữa các đội khiến Ban giám khảo, Ban cố vấn có những tình huống không phân định được chính xác đội nào phất cờ giành quyền trả lời nhanh nhất. Với các câu trả lời nhanh, chính xác, đội Sửu nhi đã giành điểm cao nhất trong phần thi này. Ở phần thi Hùng biện ngoài việc thuyết trình kiến thức về từ Hán Việt (kèm theo sơ đồ tư duy minh họa), các đội dự thi đã trình bày kết quả khảo sát thực trạng việc sử dụng từ Hán Việt, đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục hiện tượng dùng từ Hán Việt chưa chuẩn xác hiện nay. Nếu kỹ năng thuyết trình của đội Trảm phong hấp dẫn người nghe thì cách thức khảo sát, sự hợp tác giữa các thành viên trong đội và tương tác với đội bạn của đội Hi vọng đã thể hiện thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học. Kết thúc phần thi này, các đội giới thiệu những cuốn Sổ tay từ Hán Việt, sản phẩm của mỗi lớp sau khi hoàn thành dự án học tập. Mỗi cuốn Sổ tay từ Hán Việt đều mang những nét riêng độc đáo trong cách trình bày và sắp xếp nội dung. Cuốn Sổ tay từ Hán Việt của đội Trạng nguyên được trang trí công phu, có kết cấu khoa học và nội dung phong phú.

                                                                    (Sơ đồ tư duy)


                             (Biểu đồ khảo sát thực trạng)                            ( Sổ tay từ Hán Việt)


         Kết thúc cuộc thi, điểm số của các đội chênh lệch không nhiều. Với sự thể hiện đồng đều ở tất cả các phần thi đội Sửu Nhi đã xuất sắc giành giải nhất. Đội Trạng Nguyên giành giải Nhì, đội Hi Vọng đạt giải Ba còn đội Sức Mạnh và đội Trảm Phong đồng giải Khuyến Khích. 

                                           ( Hình ảnh ban tổ chức trao giải cho các đội thi)

         Mặc dù đang rất bận rộn với các hoạt động chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường, song nhóm giáo viên và học sinh đã cố gắng để hoàn thành dự án và báo cáo kết quả đúng thời hạn. Kinh nghiệm thu được trong quá trình triển khai dự án cũng như tổ chức cuộc thi là bài học quý báu cho nhóm giáo viên trên hành trình đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giảng dạy theo chủ đề chuyên môn của năm học. Điều quan trọng hơn là dự án và cuộc thi đã khơi dậy những khả năng tiềm ẩn, tạo môi trường để học sinh phát huy được năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, ứng dụng CNTT và vận dụng vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt hiện nay.
                                      
          Thành công của cuộc thi Tìm hiểu từ Hán Việt một lần nữa khẳng định việc đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp dạy học đã đi đúng định hướng phát huy năng lực người học, tạo niềm vui, sự hứng thú trong học tập cho học sinh./.
Nhóm giáo viên thực hiện
Được tạo bởi Blogger.