KẾT TRUYỆN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - NGUYỄN TUÂN

09:17 |
Về cái kết của truyện ngắn Chữ người tử tù(Nguyễn Tuân), có ý kiến cho rằng “Sau khi Huấn Cao bị xử chém, quản ngục nhất định bỏ nghề cai tù về quê sinh sống để giữ thiên lương cho lành vững”. Anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên?

a. Giới thiệu ngắn gọn về nhân vật Huấn Cao, quản ngục và cảnh cho chữ ở cuối truyện
b. Giải thích ý kiến
- Kết thúc truyện là sự kiện kết thúc, khép lại một câu chuyện. Cách kết thúc truyện bao giờ cũng gắn liền với chủ đề tư tưởng của tác phẩm, nó góp phần thể hiện thái độ và khát vọng của nhà văn đối với con người và cuộc sống.
- Nhận định trên thực chất là một cách tiếp cận và đồng sáng tạo của người đọc sau khi đọc xong tác phẩm.
c. Bình luận ý kiến
Tác phẩm kết thúc bằng chi tiết ngục quan vái lạy Huấn Cao mà nhận lời giáo huấn “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.Truyện dừng lại ở đây nhưng người đọc tin chắc quản ngục sẽ nghe theo lời giáo huấn của Huấn Cao bởi 2 căn cứ dưới đây:
c1. Căn cứ vào sự vận động của cốt truyện và diễn biến nội tâm nhân vật quản ngục
- Về bản chất quản ngục là người tốt, có nhân cách: Ông là người có tâm hồn nghệ sĩ, biết yêu cái đẹp và kính trọng người có tài. Mà “Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình”.“tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”... là thanh âm trong trẻo, thuần khiết, có tâm điền tốt và thẳng thắn...
- Sống trong môi trường nhà tù, nơi “người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc”, quản ngục cũng trở nên lạnh lùng, thậm chí là tàn nhẫn (qua việc nhận tù, giao tù với “những mánh khóe hành hạ thường lệ”).
- Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Huấn Cao tại nhà tù đã khiến quản ngục thay đổi:
+Ông quyết định quên đi bổn phẩn và trách nhiệm với triều đình, dũng cảm biệt đãi tử tù.
+Có lúc ông đã nhận ra mình “chọn nhầm nghề mất rồi”.
+ Ngay cả khi bị coi thường, sỉ nhục, ông vẫn giữ thái độ tôn kính với tử tù.
+ Khi được Huấn Cao cho chữ, quản ngục khúm núm, vái người tù. Tư thế và thái độ này không phải vì ông sợ sệt hay nịnh bợ mà trái lại nó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của ông trước cái đẹp, trước người tài.
    + Đặc biệt quản ngục đã nhận lời khuyên răn từ Huấn Cao “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Điều này chứng tỏ ông tự nhận mình là người không sáng suốt (mê muội) và xin được nghe theo lời của Huấn Cao (bái lĩnh). Điều này cũng cho thấy nhân cách của quản ngục: ông không chỉ có tấm lòng biệt nhỡn liên tài mà còn biết phục thiện.
- Lời hứa của một nhân cách trước một nhân cách khác, lời hứa của một người còn sống với một người sắp từ giã cõi đời sẽ là một lời hứa có giá trị. Vì thế ta có thể chắc chắn rằng rồi ngục quan sẽ từ bỏ công việc cai tù để bắt đầu một cuộc sống khác.
c2. Căn cứ vàoquan niệm sáng tác theo chủ nghĩa lãng mạn của Nguyễn Tuân: ông là người tôn thờ cái đẹp, ông cho rằng cái đẹp chỉ tồn tại khi nó đi liền với cái chân, cái thiện. Cái đẹp có chức năng giáo dục và hướng thiện. Bởi thế sau khi được Huấn Cao cho chữ và khuyên bảo chắc chắn quản ngục sẽ từ bỏ nghề cai ngục bất lương để giữ gìn cái thiên lương trong sáng của mình.
d. Đánh giá
- Ý kiến trên nhấn mạnh vai trò của kết thúc truyện trong việc góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
- Bằng việc xây dựng một kết thúc mở Chữ người tử tù đã hấp dẫn được người đọc đồng thời cho thấy tài năng nghệ thuật của tác giả khi xây dựng cốt truyện.

- HS liên hệ.

CHI TIẾT ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI TRONG TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM

09:10 |
Sự vận động của thời gian (chiều – đêm khuya) và không gian (phố huyện nghèo, chủ yếu quanh ga xép có chuyến tàu đêm đi qua) là cơ sở để ánh sáng và bóng tối xuất hiện như yếu tố tham gia vào câu chuyện
b1. Bóng tối
b.1.1. Bóng tối hiện hình trong thiên nhiên
- Bầu trời:
+ Khi phương tây đỏ rực như lửa cháy, thì người đọc cũng thấy dãy tre trước làng đen kịt cắt dán trên nền trời
+ Bầu trời đêm thăm thẳm, huyền bí
- Mặt đất:
+ Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Đôi mắt chị (Liên) bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê
+ Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối.
+ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa. Bóng tối quánh đặc: Tiếng trống cầm canh đánh tung lên rồi chìm ngay vào bóng tối
+ Chiếc tàu đi vào đêm tối. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh…Tiếng vang động của xe hỏa mất dần trong bóng tối
b.1.2. Bóng tối hiện hình bủa vây thân phận con người
- Những cuộc đời đi vào bóng tối bế tắc, vô vọng
+ Những đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ
+ Mẹ con chị Tý
+ Bác Siêu
+ Gia đình bác Xẩm
+ Bà cụ Thi hơi điên
+ Chị em Liên
- Những nỗi buồn, niềm hy vọng trong bóng tối mong manh
+ Bóng tối trong sâu thẳm tâm hồn Liên
+ Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ…
b2. Ánh sáng
b.2.1. Ánh sáng thiên nhiên lung linh
- Bầu trời huyền ảo: Phương tây đỏ rực như lửa cháy... Ánh sáng của ngàn sao ganh nhau lấp lánh. Vệt sáng của những con đom đóm
- Mặt đất đối lập
+ Phố huyện: Những ánh sáng từ ngọn đèn trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo loét trong nhà ông Cửu, những ánh sáng xanh trong hiệu khách...Những ánh sáng ấy chiếu ra ngoài phố... Ánh sáng từ ngọn đèn của chị Tí. Khe ánh sáng từ một vài cửa hàng còn thức. Quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn của chị Tí. Một chấm lửa ở phía huyện... Ánh sáng đèn lồng của những người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ về
+ Đoàn tàu: Làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa. Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Những người, đồng và kền lắp lánh, và các cửa kính ánh sáng…Đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng.
+ Kí ức: Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo.

b.2.2. Ánh sáng của số phận nhỏ bé, mong manh nhưng bền bỉ, dẻo dai:
    - Những người dân phố huyện nghèo giống như những vệt, quầng, khe, hột, chấm sáng
    - Bị bóng tối lấn át nhưng không bị dập tắt vẫn miệt mài bám trụ vào sự sống, tin tưởng hướng về tương lai tươi sáng
c. Đánh giá:
- Chi tiết AS, BT có vị trí quan trọng thể hiện nội dung câu chuyện, chủ đề tác phẩm: cuộc sống quẩn quanh bế tắc và ước mơ về tương lai tươi sáng
- Chi tiết thể hiện được tài năng nhà văn: cách miêu tả sinh động, cách biểu cảm rung động, thủ pháp tương phản đối lập gay gắt và quan niệm thẩm mỹ sâu sắc, góp phần tô đậm hiện thực cuộc đời con người trong xã hội cũ: cuộc đời của những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối, nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện, và nói rộng ra, trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ và đói nghèo.
- Sử dụng tài tình bút pháp tương phản của chủ nghĩa lãng mạn, sáng tạo được những chi tiết nghệ thuật đắt giá, trở thành những chi tiết ám ảnh tâm hồn người đọc.

Hướng dẫn ôn tập bài thơ Tây tiến của Quang Dũng

11:32 |
I.TÌM HIỂU CHUNG:

1.Tác giả:
- Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây.
- Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa.
- Các tác phẩm chính: Mùa hoa gạo (1950), Bài thơ sông Hồng (1956), Đường lên châu Thuận (1964), Làng Đồi đánh giặc (1976),  Mây đầu ô (1986), Quang Dũng - Tác phẩm chọn lọc (1988)

2. Tác phẩm: 
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng địch ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân TT khá rộng nhưng chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm.
 - Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến. Tây Tiến là một bài thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang Dũng, xuất hiện ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
b. Cảm hứng:
- Cảm hứng lãng mạn: Tác phẩm đã bày tỏ mạch cảm xúc tràn trề của cái tôi trữ tình – nỗi nhớ nồng nàn bao bọc cả bài thơ. Sử dụng nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh, phát huy cao độ trí tưởng tượng khiến cho bài thơ có nhiều so sánh liên tưởng độc đáo. Đối tượng miêu tả có nhiều nét phi thường, thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa thơ mộng trữ tình, hoang sơ mà ấm áp, người lính Tây Tiến hào hoa, mộng mơ, lãng mạn. Sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập: đối lập về hình ảnh, thanh điệu, tính cách của người lính TT.
-Âm hưởng bi tráng: “bi” là đau buồn, “tráng” là khỏe khoắn, mạnh mẽ. Tác phẩm có âm hưởng bi tráng thường không né tránh những chuyện xót xa, đau lòng nhưng bao giờ cũng đưa đến những xúc cảm mạnh mẽ, rắn rỏi. Tác giả đã nhắc đến những khó khăn gian khổ trong những cuộc hành quân, nói đến những mất mác, hi sinh, nhưng trong cái đau thương ấy đã hàm chứa những nét đẹp hùng. Bi mà không luỵ. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng.
- Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.
                                       
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM
Vấn đề 1.Vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến
I. Mở bài:
- Giới thiệu về bài thơ Tây Tiến và nhà thơ Quang Dũng.
- Giới thiệu về hình tượng người lính Tây Tiến.
II. Thân bài:
1. Khái quát chung về đoàn quân Tây Tiến
- Nhiệm vụ:
- Địa bàn hoạt động:
- Thành phần:
2. Về vẻ đẹp hình tượng người lính
a. Vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa
- Là những thành niên trẻ, lại xuất thân từ thủ đô Hà Nội, các chiến sĩ Tây Tiến luôn giữ được đời sống tâm hồn phong phú, lãng mạn.
- Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến được tác giả xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng thủ pháp đối lập để tác động vào trí tưởng tượng của người đọc.
- Biểu hiện:
+ Người lính trên chặng đường hành quân gian khổ đã khám phá ra  những vẻ đẹp nguyên sơ ẩn chứa hồn thiêng của núi rừng Tây Bắc. Tâm hồn họ luôn hòa vào cuộc sống của người dân Tây Bắc (thưởng thức hoa ở Mường Lát; ngắm mưa rừng ở Pha Luông; tinh nghich, hóm hỉnh trong cách cảm nhận độ cao của núi súng ngửi trời; da diết với hương nếp xôi ở Mai Châu…)
+ Người lính hòa mình vào những đêm liên hoan thắm tình quân dân với hội đuốc hoa, với hình ảnh những thiếu nữ sơn cước lộng lẫy xiêm áo. Tâm hồn người lính nhạy cảm trước vẻ đẹp của cả con người và thiên nhiên Tây Bắc ( người đi Châu Mộc, chiều sương, hồn lau, hoa đong đưa…)
+ Giữa bao nhiêu gian khổ thiếu thốn, người lính vẫn luôn hướng lòng về Hà Nội, trái tim họ vẫn rung động trong nỗi nhớ về một dáng kiều thơm. Những tình cảm ấy không làm lung lay tinh thần chiến đấu mà trái lại đó còn là động lực tăng thêm lòng quyết tâm, ý chí chiến đấu kiên cường cho người lính.
b. Vẻ đẹp hào hùng
- Hoạt động ở địa bàn hiểm trở (núi cao, vực sâu, thú dữ…) khiến người lính tiều tụy về hình hài (không mọc tóc, quân xanh màu lá) song khí thế lại hiên ngang oai hùng như loài hổ báo (dữ oai hùm).
- Luôn ôm ấp khát vọng giết giặc lập công (Mắt trừng gửi mộng qua biên giới) .
- Không né tránh hiện thực, tác giả nhìn thẳng vào những mất mát hi sinh của người lính trên chặng đường hành quân chiến đấu. Nhiều lần tác giả nhắc đến cái chết (Anh bạn dãi dầu không bước nữa, Gục lên súng mũ bỏ quên đời, Rải rác biên cương mồ viễn xứ) song không gợi sự bi lụy, bi thương mà trái lại còn thể hiện tư thế hiên ngang lẫm liệt, với khẩu hiệu Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Chú ý: nghệ thuật miêu tả đối lập giữa thể xác (ốm đói) với tinh thần (mạnh mẽ, oai hùng), cách nói giảm nói tránh về cái chết (bỏ quên đời, về với đất), đặc biệt là hệ thống từ Hán Việt đã làm sang trọng cái chết của người lính…
c. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người lính
3. Kết bài
- Đánh giá, liên hệ, mở rộng vấn đề ( Có thể so sánh với các tác phẩm khác cùng viết về đề tài người lính trong kháng chiến chống Pháp như Nhớ của Hồng Nguyên, Đồng chí của Chính Hữu…).

Vấn đề 2. Thiên nhiên Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến
1. Mở bài
- Giới thiệu về bài thơ Tây Tiến và nhà thơ Quang Dũng.
- Giới thiệu về bức tranh thiên nhiên Tây Bắc trong bài thơ.
2. Thân bài
a. Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội và hiểm trở.
- Núi rừng Tây Bắc hoang vu, hiểm trở với những núi cao, vực sâu, dốc đèo trùng điệp (dốc lên khúc khuỷu…, ngàn thước lên cao…).
- Sương mù dày đặc che phủ, vùi lấp cả một đoàn quân (Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi).
- Núi rừng hoang sơ, huyền bí, âm u với tiếng thác oai linh, tiếng thú dữ hú gầm luôn rình rập, đe dọa con người (Chiều chiều oai linh thác gầm thét).
- Các địa danh cụ thể: Sài Khao, Mường Lát, Mai Châu… gợi hình ảnh những bản mường xa xôi, cách trở và hoang vắng.
b. Thiên nhiên Tây Bắc lãng mạn và thơ mộng
- Những ngôi nhà ở Pha Luông bồng bềnh trong những cơn mưa rừng mà người chiến sĩ tưởng như những cơn mưa ở biển khơi.
- Ở Mường Lát hoa rừng tỏa hương lung linh trong đêm.
- Chiếm lĩnh đỉnh núi cao người lính như chìm trong những cồn mây.
- Sương mù bao phủ tạo cảm giác lung linh, huyền ảo ở Châu Mộc. Thiên nhiên trở nên sống động và có hồn (hồn lau, hoa đong đưa). Cảnh và người hòa quyện, gắn bó.
c. Thiên nhiên được đặt trong mối quan hệ gắn bó với con người
- Dưới bút pháp của chủ nghĩa lãng mạn, bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hiện ra như một tác phẩm hội họa tuyệt mĩ. Thiên nhiên được đặt trong mối quan hệ gắn bó hài hòa, mật thiết với cuộc sống của con người. Với người lính Tây Tiến, thiên nhiên vừa thử thách ý chí, lại vừa là nguời bạn đồng hành trên những chặng đường hành quân gian khổ..Tóm lại, thiên nhiên chính là cái nền làm nổi bật hình ảnh con người.
Lưu ý: Có thể so sánh bức tranh thiên nhiên Tây Bắc trong Tây Tiến với một số tác phẩm khác như Tiếng hát con tàu, Vợ chồng A Phủ…
3. Kết bài:
- Đánh giá, liên hệ, mở rộng vấn đề.

Vấn đề 3: Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của bài thơ Tây Tiến
I. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận
II. Thân bài:
1.Khái quát:
- Khái quát xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác bài thơ
- Giải thích:
 + Giải thích thế nào là cảm hứng lãng mạn : Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng bày tỏ mạch cảm xúc tràn trề của cái tôi trữ tình, nói cách khác là cảm hứng thể hiện một cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và có trí tưởng tượng phong phú, bay bổng. Bài thơ mang cảm hứng lãng mạn thường tô đậm cái phi thường, cái có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ. Nó thường xuyên sử dụng thủ pháp đối lập.
+ a) Giải thích thế nào là tinh thần bi tráng. Bi tráng là buồn đau mà không bi lụy, vẫn mạnh mẽ, rắn rỏi, gân guốc.
2. Cụ thể:
* Những biểu hiện của cảm hứng lãng mạn ở bài "Tây Tiến":
- Cả bài thơ được bao bọc trong nỗi nhớ nồng nàn. Từ "nhớ" được nhắc tới nhiều lần. Tất cả các hình ảnh trong bài thơ đều được sống động nhờ kí ức, cũng có nghĩa là nhờ nỗi nhớ.
- Trí tưởng tượng của nhân vật trữ tình được thử sức vẫy vùng khiến cho cả bài thơ chứa đựng nhiều so sánh, liên tưởng độc đáo: "sương lấp", "súng ngửi trời", "thác gầm thét", "Sông Mã gầm lên khúc độc hành"...
- Bài thơ có nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh về vẻ đẹp vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng trữ tình của dải đất miền Tây Bắc Tổ quốc. Hùng vĩ, dữ dội với dốc cao, thác dữ, mưa lớn. Thơ mộng trữ tình với mùi "thơm nếp xôi", với "hồn lau", "chiều sương", với "hoa đong đưa" trên dòng nước lũ... Tất cả đều đạt tới mức độ tuyệt đỉnh.
- Cảm hứng lãng mạn của bài thơ tăng lên khi nó đi sâu miêu tả bản tính lãng mạn, mộng mơ của những người lính Tây Tiến. Họ say ngắm những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên trên bước đường hành quân, họ hào hứng tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng náo nhiệt, họ giữ trong tim hình ảnh những kiều nữ chốn đô thành...
- Bài thơ sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập - một thủ pháp quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn. Sự đối lập ở đây có nhiều cấp độ: đối lập về hình ảnh, đối lập về thanh điệu, đối lập ở các chuỗi vần, đối lập ở từ ngữ, đặc biệt là đối lập trong những nét tính cách của người lính Tây Tiến...
* Những biểu hiện của âm hưởng bi tráng ở bài "Tây Tiến":
- Bài thơ không ngần ngại nói tới những gian nan ghê gớm mà các chiến sĩ phải trải qua. Dốc cao, vực sâu, thú dữ, dịch bệnh luôn đe dọa. Đặc biệt nhiều lần bài thơ nói đến cái chết.
- Bên cạnh những chi tiết miêu tả cuộc sống gian khổ, bài thơ cũng chứa đựng nhiều chi tiết nói về sự can trường, mạnh mẽ của những người lính. Họ sẵn sàng đương đầu với thử thách, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết chí theo đuổi đến cùng lí tưởng chiến đấu vì Tổ quốc.
- Hơi thơ cổ kính cùng việc nhấn mạnh cố ý vào nét trượng phu của người lính cũng góp phần làm tăng tính chất bi tráng của tác phẩm.
3. Đánh giá:
- Chốt lại về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.
- So sánh với các sáng tác viết về đề tài người lính trong kháng chiến chông Pháp.
III. Kết bài:

-Khẳng định vấn đề nghị luận

                                                                                                                 GV Hồng Vân - Phương Linh

Hướng dẫn tự học bài thơ Đất Nước - Nguyễn Khoa Điềm

11:15 |

A.            Khái quát:
I.                   Tác giả:
- Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943, quê gốc tại Huế, sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội ông trở về miền Nam tham gia chống Mĩ. Ông là một trong những nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm gửi gắm triết luận suy tư nhưng gần gũi với đời sống bình dị của con người.
- Sau giải phóng ông tham gia công tác chính trị và hoạt động văn nghệ. Ông từng giữ chức Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin...
   II. Đoạn trích: Đất nước.
1.     Xuất xứ:
 - Đoạn trích trích chương V trường ca Mặt đường khát vọng, được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ trong các đô thị tạm chiếm ở miền Nam xuống đường đấu tranh hòa vào cuộc kháng chiến của dân tộc.
2. Nội dung:
- Đoạn thơ là sự cảm nhận về Đất nước trong cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn mang đậm tư tưởng: Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.
- Đoạn thơ chia làm 2 phần:
+ Phần 1 ( 42 câu đầu): Đất nước được cảm nhận từ những điều bình dị, gắn bó, gần gũi nhất trong cuộc sống con người. Đất nước tồn tại trong chiều rộng không gian, chiều dài thời gian và chiều sâu lịch sử, địa lí với truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc.
+ Phần 2: Nhà thơ cảm nhận về Đất nước trên tư tưởng Đất nước của nhân dân. Đặc biệt nhà thơ có phát hiện mới mẻ về Đất nước qua cái nhìn thắng cảnh, đưa người đọc đến với quan điểm cá nhân mỗi con người đều góp phần mình làm nên đất nước.
-Đoạn thơ mang đậm phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm: Kết hợp trữ tình với chính luận, suy tưởng và cảm xúc.

B. Hướng dẫn:
Đề 1: Chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn trích Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm).
I.               MB: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
-                     Giới thiệu chất liệu VHDG  góp phần thể hiện tư tưởng nhà văn.
II.   TB:
1.Tổng quát:
- VHDG là vấn đề lớn mang tính tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian bao gồm: âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu, văn học...   Chất liệu VHDG góp phần thể hiện tư tưởng của NKĐ trong đoạn trích Đất nước.
-  Nguyn Khoa Đim s dng rt nhiu cht liu ca ca dao, tc ng, thành ng dân gian, các truyn thuyết và c tích, các phong tc, tp quán...trong đon trích Đt Nước.  
  2.  Biểu hiện:
2.1. Chất liệu văn hoá dân gian trong đoạn trích Đất Nước gắn với ca dao, tục ngữ, thành ngữ ... của văn học dân gian
            Khi triết lý về cội nguồn sinh ra đất nước NKĐ không đưa ra những gì trừu tượng, xa xôi mà ĐN hình thành ngay từ tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ qua câu thơ :
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Tác giả gợi tả từ cái gốc của chất liệu dân gian, đó là  thành ngữ “Gừng cay muối mặn”, chỉ những cay đắng, gian nan đã gắn bó tình nghĩa vợ chồng. Và thói quen tâm lí, tình cảm này cũng làm cho ta gợi nhớ  đến câu ca dao:       
                    Tay bưng chén muối đãi gừng
                        Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
Và khi nói về tình yêu đôi lứa, câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm cũng hết sức mượt mà, đất nước gắn bó với con người:
                        Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Và đó là nỗi nhớ không định hình được lấy ý từ câu ca dao:
             Khăn thương nhớ ai
                        Khăn rơi xuống đất…
Và khi Nguyễn Khoa Điềm nhằm giải bày Đất Nước trải ra theo chiều dài, chiều rộng của không gian nhưng không gian ấy thật gần gũi, là nơi con chim bay về, nơi con cá móng nước:
                        Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
                        Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
 Nhà thơ lấy cảm hứng trọn vẹn từ câu hò Bình- Trị- Thiên quen thuộc                        Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi bạc
            Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi
             Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời
            Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời về non xanh
  Tự hào về một đất nước có bề dày lịch sử bốn nghìn năm, nên nhà thơ đã hướng về một yếu tố mang tính tâm linh nhưng hết sức truyền thống của người Việt.                         Hàng năm ăn đâu làm đâu
                        Cũng biết cúi đầu nhớ  ngày giỗ Tổ
Trong mỗi chúng ta đều biết cội nguồn dân tộc, gốc gác tổ tiên luôn nhắc nhở mọi người Việt bái vọng tổ tiên, yêu quê cha đất tổ, chính là  những yếu tố góp phần làm nên truyền thống yêu nước.  Đây cũng là ý thơ mà trong ca dao đã từng nhắc nhở:         Dù ai đi ngược về xuôi
                        Nhớ ngày giỗ Tổ  mùng mười tháng ba
Nguyễn Khoa Điềm đã diễn tả sự say đắm trong tình yêu nhân văn, nhân bản và cao đẹp nhất:  Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi  là ý tứ từ câu ca dao đầy ngọt ngào, trìu mến, bình dị và hết sức thân quen, nó thường trực hằng ngày mà trong những đôi nam nữ, trai gái yêu nhau không khó để nhận ra:
                                    Yêu em từ thuở trong nôi
                                Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru
Nguyễn Khoa Điềm là nhằm nói đến sự quý trọng trong lối sống tình nghĩa, trân trọng những gì có được từ khó nhọc, gian nan:
                      Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội. Thì đâu đó phảng phất trong ca dao cũng đã đúc kết và nhắc nhở mọi người rằng:   
               Cầm vàng mà lội qua sông
          Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng
Ngoài ra, câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm cũng nói đến một phẩm chất nữa  của nhân dân Việt Nam là bền bỉ kiên cường trong chiến đấu, dựng và giữ nước:
                        Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
                        Đi trả thù mà không sợ dài lâu
Điều này cũng có nghĩa là trong ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ  đã luyến láy, cảm hứng xuất phát từ cái gốc của câu ca dao đầy hùng hồn và đanh thép:                  Thù này ắt hẳn còn lâu
               Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què
Có thể thấy ở tất cả những dòng  thơ trên của Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ đã vận dụng và chuyển ý sáng tạo những câu ca dao, thành ngữ thành lời thơ đằm thắm, trữ tình, thiết tha của mình, không ngoài mục đích là ca ngợi nhân dân, ca ngợi bản sắc văn hoá của người Việt Nam.
2.2. Chất liệu văn hoá dân gian trong Đất Nước còn gắn với những thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích…
Đặc sắc, độc đáo về nghệ thuật của đoạn trích Đất Nước là sự cảm nhận về đất nước trong một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện. Trong lời mở đầu đoạn trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm có dòng thơ:
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể
            Lời thơ “ngày xửa ngày xưa” là câu mở đầu thường thấy trong các truyện cổ dân gian, nó mang âm hưởng của những câu chuyện cổ tích, đưa ta về một thuở rất xa xưa.
Những hình tượng quen thuộc trong thần thoại, truyền thuyết như “chim, rồng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, bọc trăm trứng… ” cùng hội tụ trong trường liên tưởng của nhà thơ đã làm nổi bật ý thơ có tầm khái quát cao:
                        Đất là nơi Chim về
                        Nước là nơi Rồng ở
                        Lạc Long Quân và Âu Cơ
                        Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Đất nước ở những nhà thơ khác là những khái niệm trừu tượng như lãnh thổ, chủ quyền, thì Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận được đất nước là một cái gì đó rất gần gũi, quen thuộc qua những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích mẹ thường kể từ thuở còn nằm trong nôi.
2.3. Chất liệu văn hoá dân gian còn gắn với phong tục tập quán của người Việt Nam
Đất nước còn được hình thành từ những truyền thống cao đẹp như truyền thống yêu nước, anh hùng, lao động, văn hóa. Trước hết là truyền thống văn hóa với phong tục ngàn đời của cha ông ta đúc kết lại. Vì thế, khi Nguyễn Khoa Điềm tâm sự:         Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đó là phong tục “miếng trầu là đầu câu chuyện” có từ thuở các vua Hùng dựng nước. Hay gợi nhớ câu chuyện “Trầu cau” đầy nghĩa tình vừa mang yếu tố truyền thuyết lại vừa đậm yếu tố đời thường cũng là gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt. Hay  khi nhà thơ miêu tả cái dáng dấp thấp thoáng của người mẹ hiện lên trong vẻ đẹp đầy nữ tính của người phụ nữ Việt Nam, nhà thơ đã viết:
Tóc mẹ thì bới sau đầu.   Tục búi tóc thành cuộn sau gáy của người dân Việt, đó là tập quán thể hiện quan niệm “cái răng cái tóc là góc con người” của người Việt cổ xưa mà đã một thời tô điểm vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ Việt Nam.
Đất nước chúng ta được hình thành  từ trong cộng đồng của những người có chung kiểu ngôn ngữ nôm na dễ hiểu như thói quen đặt tên con bằng tên các đồ vật cho dễ nuôi của người dân lao động nước ta:
                                     Cái kèo, cái cột thành tên
 Tất cả những điều tưởng chừng như bình thường ấy đã trở thành nếp sống, thành phẩm chất tốt đẹp, thành thuần phong mĩ tục đậm đà bản sắc mang tính văn hoá Việt Nam.
3. Đánh giá:
-Chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn trích tạo ra được không gian nghệ thuật để đưa người đọc vào thế giới mĩ lệ, bay bổng của ca dao, thần thoại của văn hóa dân gian nhưng lại mới mẻ qua cách tư duy hiện đại.
-  Chất liệu văn hóa dân gian được vận dụng sáng tạo, lấy ý để tổ chức câu thơ từ đó tạo được hình ảnh, giọng điệu và các lớp nghĩa mới mẻ.
- Góp phần thể hiện tư tưởng: Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại, đất nước gắn bó trong những cái bình dị nhất, trong không gian địa lí và chiều sâu lịch sử, văn hóa của dân tộc.
4. Vận dụng liên hệ, so sánh.
- So sánh với một số bài thơ khác cùng để tài Đất nước.
- Liên hệ khai thác chất liệu văn hóa dân gian trong một số bài thơ khác
III. KB:
-                      Khái quát lại vấn đề
-                      Mở rộng liên hệ tình yêu quê hương đất nước.

Đề 2: Quan niệm về Đất Nước trong đoạn trích ĐN( Nguyễn Khoa Điềm).
I.       MB:
-                     Giới thiệu chung về NKĐ và đoạn trích ĐN.
-                     Nêu khái quát quan niệm của NKĐ về Đất nước.
II.    TB:
1.                 Tổng quát: Giới thiệu chung về quan niệm Đn ở một số bài thơ khác cùng đề tài.
2.                 Quan niệm ĐN của NKĐ:
2.1.Đất nước là khái niệm trừu tượng nhưng được nhà thơ đưa về với những cái bình dị, gẫn gũi gắn bó với đời sống con người:
-                     Khi ta lớn lên....có từ ngày đó.
- Đất Nước không trừu tượng, nó ở ngay trong cuộc sống của chúng ta. Từ lời kể của mẹ, miếng trầu của bà cho đến phong tục tập quán rất riêng (...tóc bới sau đầu).
 ĐN là tình nghĩa thủy chung của cha mẹ từ buổi thương nhau, cho đến khi cái kèo, cái cột trong nhà thành tên v.v. hạt gạo ta ăn hàng ngày phải một nắng hai sương cần cù lam lũ...
 => Những hình ảnh thơ này gợi cho ta liên tưởng tới sự tích trầu cau, truyện Thánh Gióng... tới cuộc sống lam lũ lo toan hàng ngày. Tất cả những điều này làm cho Đất Nước gần gũi, gắn bó với cuộc sống bình dị của mỗi con người.
2.2.Quan niệm Đất nước trên bình diện lịch sử, địa lí.
              Đất là nơi chim về ....nhớ thầm.
- Tác giả chia cắt thành tố  Đất và Nước trong bản thân từ  Đất Nước để khai thác cách quan niệm riêng của dân tộc ta về Đất Nước. Trong ngôn ngữ của các dân tộc khác, Đất Nước được cấu tạo là nơi sinh, quê hương. Còn trong tiếng Việt, Đất Nước gồm hai yếu tố hợp thành. Đó là Đất và Nước:
Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở.
Cách chiết tự này của Nguyễn Khoa Điềm lại làm cho định nghĩa Đất Nước trở nên vô cùng sinh động và độc đáo.
          - Đất Nước được cảm nhận trên phương diện không gian và thời gian, địa lý và lịch sử: 
                        Thời gian đằng đẵng 
                        Không gian mênh mông
 
Từ huyền thoại: 
                       Lạc Long Quân và Âuu  Cơ
 
                       Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
 
Cho đến truyền thuyết vua Hùng và ngày giỗ Tổ (10 -3 âm lịch).
 
                       Hàng năm ăn đâu làm đâu
 
                      Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
 
 Qua đây, tác giả muốn nói lên bề dày, chiều sâu lịch sử của nước Việt Nam chúng ta.
- Về mặt không gian địa lý Đất Nước không chỉ là núi rừng: Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, không chỉ là biển cả: Con cá ngư ông móng nước biển khơi mà còn là cái không gian rất gần gũi với cuộc sống mỗi người. 
                               Đất là nơi anh đến trường 
                               Nước là nơi em tắm
 
Đó là nơi nảy nở tình yêu lứa đôi: Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.  Đó cũng là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao nhiêu thời gian, bao nhiêu thế hệ: 
                         Những ai đã khuất 
                          Những ai bây giờ
 
                         Yêu nhau và sinh con đẻ cái
 
                         Gánh vác phần người đi trước để lại
 
                         Dặn dò con cháu chuyện mai sau
 - Tác giả đã sử dụng những câu ca dao, những nội dung của truyền thuyết dân gian với một ngôn ngữ rất tự nhiên, nhuần nhị. Chính vì thế mà những câu thơ vừa có cá tính sáng tạo mới mẻ vừa mang nét gần gũi thân thương
2.3. Đất Nước có trong mỗi cá nhân, kết tinh trong mỗi con người:      
                         Trong anh và em hôm nay
                         Đều có một phần của Đất Nước
  Mỗi cá nhân không chỉ là riêng mình mà còn là của Đất Nước. Cho nên tác giả nhắn nhủ chúng ta phải có trách nhiệm với Đất Nước. Lời nhắn nhủ ấy là với “em” nên nó có tính chất tâm sự dễ đi vào lòng người chứ không lên gân giả tạo theo kiểu “giáo huấn” chính trị: 
                  Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
                 Phải biết gắn bó và san sẻ
                 Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
                 Làm nên Đất Nước muôn đời.
=>  Đất Nước được cảm nhận trên nhiều bình diện. Vì thế nó mộc mạc tự nhiên dễ đi vào lòng người để tuổi trẻ nhận ra cái hồn cái cốt của Đất Nước.
2.4.  Tư tưởng cốt lõi và tụ điểm là ở phần cuối là tư tưởng: Đất Nước này  là Đất Nước nhân dân. Đất Nước của ca dao thần thoại. Đây là một định nghĩa giản dị và khá độc đáo về Đất Nước. 
-  Cách nhìn nhữ ng thắng cảnh của địa lý có chiều sâu của sự phát hiện mới mẻ. Nếu không có người vợ chờ chồng trong những cuộc chiến tranh li tán thì không có Đá Vọng Phu. Nếu không có truyền thuyết vua Hùng dựng nước thì không cảm nhận được sự linh thiêng và hùng vĩ của cảnh quan núi đồi trùng điệp. Đoạn thơ đã khái quát:
Và ở đâu trên khắp ruộng gò bãi
                   Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
                   Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
                   Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.
- Khi nói về bốn nghìn năm Đất Nước, tác giả không điểm lại các thời đại hào hùng như Nguyễn Trãi (...trải từ Triệu, Đinh ) như Chế Lan Viên (... nước Việt Nam nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê / Thành nước Việt nhân dân trong mát suối) mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh: 
                  Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
                  Họ đã sống và chết
                  Giản dị và bình dân
                  Không ai nhớ mặt đặt tên
                  Nhưng họ đã làm ra Đất Nước 
- Tác giả chọn ba dẫn chứng trong ca dao thần thoại để nói về truyền thống của nhân dân, của dân tộc:
 + Yêu em từ thuở trong nôi: Tức là tình yêu rất đắm say.
 + Biết quí công cầm vàng những ngày lặn lội: Tức là biết quí trọng tình nghĩa.
 + Biết trồng tre đợi ngày thành gậy / Đi trả thù mà không sợ dài lâu: Sự quyết liệt trong căm thù và trong truyền thống  yờu nước chống giặc ngoại xõm.
=> Tư tưởng Đất Nước của nhân dân thực ra đã có từ rất lâu trong truyền thống văn hóa dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm nhận thức về Đất Nước mt cỏch sâu sắc bằng trải nghiệm của mình về vai trò cũng như sự đóng góp, hi sinh vô bờ bến của nhân dân trong cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt và trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm một tiếng nói mới mẻ vào dòng thơ viết về Đất Nước.
3. Đánh giá: - So sánh với một số bài thơ khác viết về đề tài ĐN trong VH trung đại: Quan niệm Đn bị chi phối bởi tư tưởng Nho giáo: tư cách xưng vương, lãnh thổ, tư cách độc lập, triều đại...
- Trong Đn ( NKĐ): hiện đại dân chủ. Tư tưởng Đn hình thành trên nhiều bình diện trong đó đề cao vai trò nhân dân.
4.Vận dụng liên hệ: Trách nhiệm bản thân đối với Đất nước.
III. KB:
-                     Khái quát vấn đề.
-                     Mở rộng tinh thần yêu nước ở một số tỏc giả:
Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết
Cho mỗi căn nhà, ngọn núi, con sông... ( Chế Lan Viên).

                                                                                                  GV Trần Thị Kim Anh
Được tạo bởi Blogger.