HƯỚNG DẪN KĨ NĂNG LỰA CHỌN BIỂU ĐỒ THÍCH HỢP

00:43 |


1. Kỹ năng lựa chọn biểu đồ.
1.1. Yêu cầu chung.
Để thể hiện tốt biểu đồ, cần phải có kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất; kỹ năng tính toán, xử lý số liệu (ví dụ, tính giá trị cơ cấu (%), tính tỉ lệ về chỉ số phát triển, tính bán kính hình tròn...); kỹ năng vẽ biểu đồ (chính xác, đúng, đẹp...); kỹ năng nhận xét, phân tích biểu đồ; kỹ năng sử dụng các dụng cụ vẽ kỹ thuật (máy tính cá nhân, bút, thước...)
1.2. Cách thể hiện.
a. Lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất Câu hỏi trong các bài tập thực hành về kĩ năng biểu đồ thường có 3 phần: Lời dẫn (đặt vấn đề); Bảng số liệu thống kê; Lời kết (yêu cầu cần làm)
a.1. Căn cứ vào lời dẫn (đặt vấn đề). Trong câu hỏi thường có 3 dạng sau:
- Dạng lời dẫn có chỉ định. Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu sử dụng … năm...”. Như vậy, ta có thể xác định ngay được biểu đồ cần thể hiện.
- Dạng lời dẫn kín. Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau... Hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất.... thể hiện…. & cho nhận xét)”. Như vậy, bảng số liệu không đưa ra một gợi ý nào, muốn xác định được biểu đồ cần vẽ, ta chuyển xuống nghiên cứu các thành phần sau của câu hỏi. Với dạng bài tập có lời dẫn kín thì bao giờ ở phần cuối “trong câu kết” cũng gợi ý cho chúng ta nên vẽ biểu đồ gì.
- Dạng lời dẫn mở. Ví dụ: “Cho bảng số liệu... Hãy vẽ biểu đồ sản lượng công nghiệp nước ta phân theo các vùng kinh tế năm...)”. Như vậy, trong câu hỏi đã có gợi ý ngầm là vẽ một loại biểu đồ nhất định. Với dạng “lời dẫn mở” cần chú ý vào một số từ gợi mở trong câu hỏi. Ví dụ
+ Khi vẽ biểu đồ đường biểu diễn: Thường có những từ gợi mở đi kèm như “tăng trưởng”, “biến động”, “phát triển”, “qua các năm từ... đến...”. Ví dụ: Tốc độ tăng dân số của nước ta qua các năm...; Tình hình biến động về sản lượng lương thực...; Tốc độ phát triển của nền kinh tế.... v.v.
+ Khi vẽ biểu đồ hình cột: Thường có các từ gợi mở như: ”Khối lượng”, “Sản lượng”, “Diện tích” từ năm... đến năm...”, hay “Qua các thời kỳ...”. Ví dụ: Khối lượng hàng hoá vận chuyển...; Sản lượng lương thực của …; Diện tích trồng cây công nghiệp...
+ Khi vẽ biểu đồ cơ cấu: Thường có các từ gợi mở “Cơ cấu”, “Phân theo”, “Trong đó”, “Bao gồm”, “Chia ra”, “Chia theo...”. Ví dụ: Giá trị ngành sản lượng công nghiệp phân theo...; Hàng hoá vận chuyển theo loại đường...; Cơ cấu tổng giá trị xuất - nhập khẩu...
a.2. Căn cứ vào trong bảng số liệu thống kê: Việc nghiên cứu đặc điểm của bảng số liệu để chọn vẽ biểu đồ thích hợp, cần lưu ý:
- Nếu bảng số liệu đưa ra dãy số liệu: Tỉ lệ (%), hay giá trị tuyệt đối phát triển theo một chuỗi thời gian (có ít nhất là từ 4 thời điểm trở lên). Nên chọn vẽ biểu đồ đường biểu diễn.
- Nếu có dãy số liệu tuyệt đối về qui mô, khối lượng của một (hay nhiều) đối tượng biến động theo một số thời điểm (hay theo các thời kỳ). Nên chọn biểu đồ hình cột đơn.
- Trong trường hợp có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau, nhưng có mối quan hệ hữu cơ. Ví dụ: diện tích (ha), năng suất (tạ/ha) của một vùng nào đó theo chuỗi thời gian. Chọn biểu đồ kết hợp.
- Nếu bảng số liệu có từ 3 đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau (tấn, mét, ha...) diễn biến theo thời gian. Chọn biểu đồ chỉ số.
- Trong trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng phân ra từng thành phần. Ví dụ: tổng số, chia ra: nông - lâm – ngư; công nghiệp – xây dựng; dịch vụ. Với bảng số liệu này ta chọn biểu đồ cơ cấu, có thể là hình tròn; cột chồng; hay biểu đồ miền. Cần lưu ý:
Nếu vẽ biểu đồ hình tròn: Điều kiện là số liệu các thành phần khi tính toán phải bằng 100% tổng.
Nếu vẽ biểu đồ cột chồng: Khi một tổng thể có quá nhiều thành phần, nếu vẽ biểu đồ hình tròn thì các góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp, trường hợp này nên chuyển sang vẽ biểu đồ cột chồng (theo đại lượng tương đối (%) cho dễ thể hiện.
Nếu vẽ biểu đồ miền: Khi trên bảng số liệu, các đối tượng trải qua từ 4 thời điểm trở lên (trường hợp này không nên vẽ hình tròn).
a.3. Căn cứ vào lời kết của câu hỏi.
Có nhiều trường hợp, nội dung lời kết của câu hỏi chính là gợi ý cho vẽ một loại biểu đồ cụ thể nào đó. Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau… Anh (chị) hãy vẽ biểu đồ thích hợp... Nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu… và giải thích nguyên nhân của sự chuyển dịch đó”. Như vậy, trong lời kết của câu hỏi đã ngầm cho ta biết nên chọn loại biểu đồ (thuộc nhóm biểu đồ cơ cấu) là thích hợp.
                                                                                                                       Lê Nhung - GV Địa Lý


Phương pháp dựng đoạn văn nghị luận

02:43 |

I, Khái niệm đoạn văn.
1, Về nội dung.
  Đoạn văn diễn đạt tương đối trọn vẹn một ý.
2, Về hình thức.
Đoạn văn là phần văn bản:
  + Bắt đầu từ chữ viết hoa lùi vào đầu dòng.
  + Kết thúc là một dấu chấm xuống dòng.
  + Đoạn có một hoặc do nhiều câu liên kết tạo thành.
3, Các câu trong đoạn văn.
  a, Câu mở đoạn.
   Là câu nêu vấn đề.
  b, Câu khai triển đoạn.
   Là câu phát triển ý được nêu ở câu mở đoạn.
  c, Câu kết đoạn.
   Là câu khép lại vấn đề.
  d, Câu chủ đề.
   Là câu mang ý chính của toàn đoạn. Vị trí của câu chủ đề tùy thuộc vào kết cấu của đoạn.
   Ví dụ: Thơ mới là một trào lưu của nền văn học hiện đại (1). Khuynh hướng sáng tác này khởi đầu vào năm 1932, kết thúc năm 1945 (2). Thơ mới đề cao cái tôi cá nhân (3). Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính ... là những tác giả tiêu biểu của phong trào thơ mới (4). Thơ mới có đóng góp rất lớn cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam (5).
II, Đoạn nghị luận.
1, Khái niệm.
  Đoạn văn nghị là một phần của văn bản nghị luận.
  Văn bản nghị luận là văn bản được viết ra nhằm xác lập cho người đọc (Người nghe) một tư tưởng, một quan điểm.
2, Các yếu tố chính trong bài văn nghị luận.
  Muốn xây dựng bài văn nghị luận cần phải xác lập các yếu tố:
  a, Luận điểm.
   Là ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng trong bài văn nghị luận.
  b, Luận cứ.
   Là căn cứ để xây dựng luận điểm.
  c, Luận chứng.
   Là chứng cứ minh họa cho luận cứ, luận điểm.
  d, Lập luận.
   Là cách lựa chọn, sắp các luận cứ để dẫn đến luận điểm.
3, Một số cách lập luận trong bài văn nghị luận.
  a, Đoạn diễn dịch.
  a1, Khái niệm.
   Diễn dịch là phương pháp trình bày ý từ luận điểm suy ra các luận cứ (Từ ý tổng quát suy ra ý cụ thể).
  a2, Ví dụ minh họa.
     Tham nhũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Châu Á (1). Chính phủ Hàn Quốc bắt giam hai cựu bộ trưởng Bộ quốc phòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhận hối lộ một triệu đô la (2). Giới lập pháp ở Đài Loan hiện phải công khai tài sản của mình và rồi đây các viên chức cao cấp trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó (3). Cũng do tham nhũng, đảng dân chủ tự do cầm quyền ở Nhật Bản đã mất đa số ghế tại hạ viện (4).
(Báo Tuổi trẻ, số ngày 05/08/1993)
b, Đoạn quy nạp.
  b1, Khái niệm.
   Quy nạp là phương pháp trình bày ý từ các luận cứ rút ra những nhận định tổng quát, rút ra luận điểm (Từ các ý cụ thể rút ra nhận định chung).
b2, Ví dụ minh họa.
     Tại Nhật Bản, do tham nhũng Đảng tự do cầm quyền đã mất đa số ghế tại hạ viện (1). Chính phủ Hàn Quốc đã bắt giam hai cựu bộ trưởng Bộ quốc phòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhận hối lộ một triệu đô la (2). Giới lập pháp ở Đài Loan hiện phải công khai tài sản của mình và rồi đây các viên chức cao cấp trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó (3). Tham nhũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Châu Á (4).
c, Đoạn song hành.
  c1, Khái niệm.
   Song hành là cách lập luận trình bày ý giữa các câu ngang nhau (Các câu đều là luận cứ). Luận điểm được rút ra từ việc tổng hợp các ý của luận cứ (Đoạn song hành có câu chủ đề ẩn).
 c2, Ví dụ minh họa.
     Văn Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác (1). Văn Thạch Lam nhẹ nhàn, tinh tế (2). Văn Nam Cao giàu tính triết lí (3). 
Câu chủ đề ẩn: Phong cách riêng của cấc nhà văn Việt Nam.
d, Đoạn tổng- phân- hợp.
  d1, Khái niệm.
   Đoạn tổng- phân- hợp là đoạn nghị luận có cách triển khai ý từ luận điểm suy ra các luận cứ, rồi từ các luận cứ khẳng định lại luận điểm. Qua mỗi bước vấn đề được nâng cao hơn.
   - Mẫu đoạn hỗn hợp liên tục (Gồm có nhiều câu và nhiều kiểu quan hệ ý nghĩa kết hợp với nhau không theo trật tự).
  d2, Ví dụ minh họa 1.
      Tiếng Việt chúng ta rất đẹp, đẹp như thế nào đó là điều khó nói (1). Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹph như thế nào, cũng như ta không thể nào phân tích cái đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên (2). Nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam, chúng ta cảm thấy thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng ta, tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn lớn (3). Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp, bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp (4). (Phạm Văn Đồng)
      - Mẫu đoạn hỗn hợp gián đoạn.
    Ví dụ minh họa 2.
        Trước hết, ta có thể chia từ tiếng Việt thành hai bộ phận khác nhau: Những từ tình thái và những từ phi tình thái (1). Những từ tình thái là những từ không có ý nghĩa từ vựng cũng không có ý nghĩa ngữ pháp, không có quan hệ ngữ pháp với bất cứ từ nào trong câu (2). Ví dụ: Ôi chao, eo ôi, à, a, cơ mà...vv (3). Những từ phi tình thái là những từ có ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp nhất định, có quan hệ ngữ pháp với các từ khác trong cụm từ (4). Ví dụ: Học, học trò, nó, với...vv (5).
        Phân tích: Câu 1 là câu mở đoạn cũng là câu chủ đề. Câu 2 là câu định nghĩa từ tình thái. Câu 3 là câu nêu ví dụ từ tình thái. Câu 4 là câu định nghĩa từ phi tình thái, câu này không có quan hệ ý nghĩa với câu 3 đứng trước nó, câu này có quan hệ song hành với câu 2. Câu 5 nêu định nghĩa từ phi tình thái.
e, Đoạn móc xích.
  e1, Khái niệm.
    Triển khai ý bằng cách câu sau kế thừa và phát triển ý câu trước, luận cứ của câu trước tạo tiền đề cho sự phát triển ý của câu sau và cứ như thế đến hết đoạn.
  e2, Ví dụ minh họa.
      Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất (1). Muốn tăng gia sản xuất thì phải có kĩ thuật tiên tiến (2). Muốn sử dụng kĩ thuật thì phải có văn hóa (3). Vậy việc bổ túc văn hóa là cực kì cần thiết (4). (Hồ Chí Minh)
III. Kết luận.
 Rèn luyện, viết được đoạn văn hay sẽ viết được bài văn hay
IV. Thế nào là đoạn văn?
Khái niệm đoạn văn ở trường phổ thông hiện nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
- Cách hiểu thứ nhất (đoạn ý): Đoạn văn được dùng với ý nghĩa để chỉ sự phân đoạn nội dung, phân đoạn ý của văn bản. Một văn bản bao gồm nhiều đoạn văn: Đoạn mở đầu văn bản, những đoạn khai triển văn bản, đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn phải có sự hoàn chỉnh nhất định nào đó về mặt ý, về mặt nội dung. Nhưng thế nào là một nội dung, một ý hoàn chỉnh thì không có tiêu chí để xác định rõ ràng. Một văn bản, tuỳ theo người đọc cảm nhận mà phân chia ra thành các đoạn, sự phân chia có thể không thống nhất giữa những người đọc: có người chia theo ý lớn, có người chia theo ý nhỏ. Ý lớn là đoạn bài có hai hoặc ba ý nhỏ được khai triển từ ý lớn, bao gồm hai hoặc ba đoạn văn ngắn, mỗi đoạn ngắn đó là một ý nhỏ, các đoạn này hợp ý với nhau thành một ý lớn; ý nhỏ là ý được khai triển từ ý lớn, về mặt nội dung chỉ triển khai theo một phương diện, một hướng cụ thể, mỗi ý nhỏ là một đoạn.
Cách hiểu này khiến cho cách phân đoạn thiếu tính khách quan. Với cách hiểu này, diện mạo đoạn văn không được xác định ( đoạn văn bắt đầu từ đâu, như thế nào, các câu văn trong đoạn có mối liên kết với nhau như thế nào,…) cho nên việc xây dựng đoạn văn trở nên khó khăn, phức tạp, khó rèn luyện các thao tác để trở thành kĩ năng kĩ xảo. 
- Cách hiểu thứ hai (đoạn lời): Đoạn văn được hiểu là sự phân chia văn bản thành những phần nhỏ, hoàn toàn dựa vào dấu hiệu hình thức: một đoạn văn bao gồm những câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng.
Cách hiểu này không tính tới tiêu chí nội dung, cơ sở ngữ nghĩa của đoạn văn. Với cách hiểu này, việc rèn luyện xây dựng đoạn văn càng trở nên mơ hồ, khó xác định vì đoạn văn không được xây dựng trên một cơ sở chung nào vì hình thức bao giờ cũng phải đi đôi với nội dung, bao chứa một nội dung nhất định và phù hợp với nội dung mà nó bao chứa.
- Cách hiểu thứ ba (đoạn văn xét thao cả hai tiêu chí về ý và về lời): Đoạn văn vừa là kết quả của sự phân đoạn văn bản về nội dung ( dựa trên cơ sở logic ngữ nghĩa) vừa là kết quả của sự phân đoạn về hình thức ( dựa trên dấu hiệu hình thức thể hiện văn bản).
Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản ( các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định.
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.
Đây là cách hiểu hợp lí, thoả đáng hơn cả giúp người đọc nhận diện đoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp người viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng, rành mạch.
Ví dụ về đoạn văn:
“ Vì ông lão yêu làng tha thiết nên vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo giặc(1). Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội( 2).Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù( 3). Đây là một nét mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đánh Pháp(4). Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê(5). Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông xót xa cay đắng”(6).
Về nội dung:
- Chủ đề của đoạn văn trên là: tâm trạng mâu thuẫn của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc. Chủ đề này tập trung khái quát ở câu1,2.
- Đoạn văn trên có ba phần:
+ Câu 1,2 là phần mở đoạn. Phần này chứa đựng ý khái quát của cả đoạn văn, gọi là câu chủ đề. Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu văn.
+ Câu 3,4,5 là phần thân đoạn. Phần này triển khai đoạn văn, mỗi câu văn đề cập tới một biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề của đoạn văn.
+ Câu 6 là phần kết đoạn. Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn.
- Đây là đoạn văn có kết cấu đầy đủ cả ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Khi viết đoạn văn, không phải bao giờ cũng nhất thiết có đủ ba phần như vậy. Ví dụ: Đoạn quy nạp, câu mở đầu đoạn không chứa đựng ý khái quát mà là câu cuối cùng; đoạn diễn dịch, câu cuối cùng kết thúc đoạn không chưa đựng ý khái quát, chủ đề đã được nêu rõ ở câu mở đoạn.
Về hình thức:
- Đoạn văn trên được tạo thành bằng 6 câu văn được liên kết với nhau bằng các phép liên kết hình thức: phép thế, phép lặp.
- Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào một chữ và viết hoa.

 Nhóm chuyên môn Ngữ văn

Vấn đề 2: Văn học trung đại - Các tác phẩm của Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi

02:40 |
Vấn đề 3: Chí làm trai trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão và quan niệm sống của thanh niên hiện nay?
Gợi ý:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão
- Giới thiệu về tác phẩm Thuật hoài và dẫn dắt vấn đề
II. Thân bài:
1. Tổng quan:
- Hoàn cảnh sáng tác: Phạm Ngũ Lão sáng tác bài thơ vào cuối năm 1284 khi cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2 đang đến rất gần.
- Bài thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt đường luật, thể hiện lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng của Phạm Ngũ Lão - một vị tướng giỏi thời Trần.
2. Giải thích:
- Theo quan niệm thời trung đại, nam nhi không chỉ cần có Tài, có Tâm mà còn phải có Chí, có khát vọng để theo đuổi và thực hiện đến cùng những ước mơ, hoài bão. Đây chính là chí làm trai mang tinh thần tích cực của Nho giáo.
3. Cảm nhận:
a. Chí là trai được thể hiện qua hình ảnh người tráng sĩ đời Trần và sức mạnh quân đội nhà Trần:
- Câu 1+2: Hình ảnh người tráng sĩ trấn giữ biên ải và hình ảnh quân đội nhà Trần với hào khí Đông A góp phần khẳng định khát vọng lập công danh.
b. Chí làm trai được tập trung thể hiện trong hai câu thơ cuối:
 Câu 3:
 - Công danh: lập công (để lại sự nghiệp) và lập danh (để lại tiếng thơm).
“công danh trái”- nợ công danh
" Công danh được coi là món nợ với cuộc đời mà những trang nam nhi thời phong kiến phải trả.
-  Đó là lí tưởng sống tích cực, tiến bộ" Sự nghiệp công danh của cá nhân thống nhất với sự nghiệp chung của đất nước- sự nghiệp chống giặc ngoại xâm cứu dân, cứu nước, lợi ích cá nhân thống nhất với lợi ích của cộng đồng.
" Chí làm trai của Phạm Ngũ Lão có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân
 b. Câu 4:
- Phạm Ngũ Lão thẹn chưa có được tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước.
-  Những người có nhân cách lớn thường mang trong mình nỗi thẹn với người tài hoa, có cốt cách thanh cao" cho thấy sự đòi hỏi rất cao với bản thân.
" Đó là nỗi thẹn tôn lên vẻ đẹp tâm hồn tác giả, thể hiện cái tâm vì nước, vì dân cao đẹp
 3. Đánh giá:
- Chí làm trai góp phần hoàn thiện hình tượng người tráng sĩ đời Trần - hình tượng trung tâm của bài thơ.
4. Suy nghĩ về quan niệm sống của thanh niên hiện nay:
- Sống phải có hoài bão, ước mơ và biết mơ ước những điều lớn lao.
- Nỗ lực hết mình và không ngừng để thực hiện hoài bão và hoàn thiện bản thân.
- Gắn khát vọng, lợi ích của bản thân với lợi ích của Tổ quốc, nhân dân.
- Khi Tổ quốc gian nguy, mỗi cá nhân sẵn sàng cống hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.
III. Kết luận:
- Ngợi ca chí làm trai của tác giả Phạm Ngũ Lão và lí tưởng sống tích cực vì cộng đồng, xã hội, bản thân của thế hệ trẻ.

Vấn đề 4: Nêu suy nghĩ của anh/chị về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Bảo kính cảnh giới số 43 (Cảnh ngày hè) của Nguyễn Trãi?
                                                        Gợi ý:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi
- Giới thiệu về bài thơ, bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài thơ.
II. Thân bài:
1. Tổng quan:
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết khi Nguyễn Trãi về ở ẩn tai Côn Sơn - Chí Linh - Hải Dương.
-Vị trí: Cảnh ngày hè là bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình), thuộc phần Vô đề trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
- Bài thơ được làm theo thể thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn, thể hiện tình yêu quê hương đất nước thiết tha và tấm lòng vì dân vì nước của tác giả.
- Sáu câu thơ đầu tác giả đã tái hiện sinh động bức tranh thiên nhiên mùa hè.
2. Suy nghĩ:
* Câu thơ đầu: Rồi hóng mát thuở ngày trường
- Câu thơ ngắt nhịp 1/2/3 tự do
- Chữ “ rồi” đứng riêng một nhịp, nhấn mạnh sự nhàn rỗi, thể hiện tâm thế ung dung, tự tại của tác giả khi đến với thiên nhiên.
- Hóng mát: thú vui tao nhã của các nhà hiền triết xưa.
- Thủa ngày trường: đặc trưng của mùa hè ngày dài đêm ngắn, hơn nữa với Nguyễn Trãi những ngày nhàn rỗi thời gian như kéo dài hơn.
* 5 câu sau: Bức tranh thiên nhiên mùa hè
- Hình ảnh:
+ Hình ảnh “hòe lục”, “thạch lựu”, “hồng liên” - những hình ảnh bình dị, quen thuộc và tiêu biểu cho thiên nhiên mùa hè.
+Sử dụng động từ mạnh: “ đùn đùn”, “ phun”, “tiễn” diễn tả trạng thái vận động từ bên trong của cảnh vật, bức tranh căng tràn sức sống.
+ Màu sắc rực rỡ: màu xanh (lá), màu hồng, màu đỏ (hoa).
+ Nghệ thuật chấm phá góp phần tái hiện bức tranh mùa hè với những đăc trưng riêng.
=> Bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc, căng tràn sức sống.
-Âm thanh:
+ Âm thanh của phiên chợ cá: gợi nhịp sống sôi động, no đủ
+ Âm thanh tiếng ve: tiếng ve là dấu hiệu riêng của mùa hè
+ Từ láy tượng thanh: “lao xao” gợi không khí náo nức, tươi vui của người dân chài, “dắng dỏi” gợi tiếng ve ing ỏi, làm sống dậy cả không gian mùa hè ở làng quê yên bình.
+ Nghệ thuật đảo ngữ: “lao xao chợ cá”, “dắng dỏi cầm ve” nhấn mạnh âm thanh bình dị, quen thuộc của làng quê.
=> Bức tranh thiên nhiên được miêu tả vào thời gian cuối ngày nhưng không ảm đạm mà vẫn rộn rã, tươi vui.
- Tác giả đã sử dụng nhiều giác quan để quan sát, miêu tả: thính giác, thịc giác, khứu giác=> sự giao cảm mạnh mẽ với thiên nhiên.
3. Đánh giá:
- Bức tranh thiên nhiên hài hòa về đường nét, màu sắc, âm thanh.
- Nghệ thuật chấm phá, ngôn ngữ tinh tế…
- Nhận thức của bản thân: tình yêu thiên nhiên quê hương.
III. Kết luận:
- Khẳng định vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên được tái hiện trong bài thơ.

Vấn đề 5: Nêu suy nghĩ của anh chị về quan niệm về đất nước trong đoạn:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)

                                                       Gợi ý:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi.
 - Giới thiệu tác phẩm Bình Ngô đại cáo và đoạn thơ
- Dẫn dắt đến quan niệm về đất nước.
II. Thân bài:
1. Tổng quan:
- Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 12 năm 1428, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo để thông báo cho toàn thể nhận dân Đại Việt về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh.
- Bài thơ là áng thiên cổ hùng văn và được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc.
- Đoạn cần cảm nhận nằm ở phần đầu của bài cáo.
2. Suy nghĩ:
- Chân lý về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt: Có cơ sở vững chắc từ thực tiễn lịch sử:
+ Nguyễn Trãi đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập chủ quyền của dân tộc: cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến lâu đời, lịch sử riêng, nhân tài.
+ Khi nêu chân lý khách quan, Nguyễn Trãi đã phát biểu một cách hoàn chỉnh quan niệm của mình về quốc gia, dân tộc => học thuyết về quốc gia, dân tộc của Nguyễn Trãi.
- Quan niệm về đất nước của Nguyễn Trãi mang tính toàn diện và sâu sắc:
+ Ý thức dân tộc trong Nam quốc sơn hà được xác định chủ yếu trên hai yếu tố lãnh thổ (Nam đế cư) và chủ quyền (định phận tại thiên thư), đến Bình Ngô đại cáo, 3 yếu tố được bổ sung: văn hiến, phong tục tập quán, lịch sử.
+ Nam quốc sơn hà đối sánh Nam đế - Bắc đế. Đến Bình Ngô đại cáo, tác giả đặt các triều đại của ta (Triệu, Đinh, Lý,Trần) ngang với các triều đại của Trung Quốc(Hán, Đường, Tống, Nguyên).
+ Lí Thường Kiệt nhấn mạnh tư tưởng trung quân đất nước gắn với quyền lợi của vua, Trần Quốc Tuấn cho rằng đất nước gắn với quyền lợi của vua và tướng sĩ, đến Nguyễn Trãi ông quan niệm đất nước là của nhân dân.
 + Cái lí mà Lí Thường Kiệt dựa vào đó lá sách trời, còn Nguyễn Trãi thuyết phục người khác từ truyền thống văn hoá và lịch sử.
- Sử dụng nhiều từ  ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu” ,“đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng sức thuyết phục về độc lập chủ quyền của đất nước.
3. Đánh giá:
- Quan niệm về đất nước của Nguyễn Trãi sâu sắc và toàn diện.
- Nghệ thuật so sánh, liệt kê, giọng điệu hào hùng...
- Nhận thức về chủ quyền đất nước.
III. Kết luận:

- Khẳng định chủ quyền đất nước, giá trị tác phẩm, tài năng của tác giả.

Vấn đề 1: Văn học dân gian - Truyện cổ tích tấm cám

02:37 |
Vấn đề 1: Quan niệm về hạnh phúc của tác giả dân gian qua cuộc đời của nhân vật Tấm trong truyện Tấm Cám.

Gợi ý:
Ý 1: Giới thiệu khái quát văn học dân gian, truyện cổ tích Tấm Cám.
Ý 2a: Quan niệm hạnh phúc: Hạnh phúc theo quan niệm thông thường giản đơn là sự sung sướng, là những gì ta mong muốn và đạt được, nhưng những điều đó phù hợp với chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam.
Ý 2b. Quan niệm hạnh phúc của tác giả dân gian qua cuộc đời của nhân vật Tấm.
- Chặng 1:
+  Tấm là cô gái mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Tấm sống với dì ghẻ và người em cùng cha khác mẹ là Cám.  Tấm là cô gái chăm chỉ, hiền hậu nết na nhưng bị mẹ con Cám luôn tìm cách hãm hại, lừa dối, đối sử bất công. Người ở hiền thì vẫn gặp lành. Sau mỗi lần bị đối sử bất công ấy Tấm được Bụt giúp đỡ. Tấm đi dự hội, gặp vua và duyên trời định, Tấm trở thành hoàng hậu.
+ Đánh giá: Ở chặng 1; Tấm có hạnh phúc là nhờ phẩm chất tốt đẹp của mình, người tốt, lương thiện, hiền hậu thì thường được mọi người quý mến. Dù người đó có bị đối sử bất công hay bị trà đạp thì vẫn có những người khác, những thế lực khác (kể cả thế lực siêu nhiên) giúp đỡ. Hạnh phúc có được ở chặng 1 là nhờ vai trò của Bụt, nhờ sự giúp đỡ của Bụt những người ở hiền sẽ gặp điều lành. 
- Chặng 2:
+ Khi làm hoàng hậu: Tấm bị mẹ con Cám ghen ghét, đố kị và tìm cách hãm hại để chiếm ngôi. Để có hạnh phúc trọn vẹn, Tấm đã bị mẹ con Cám giết hại 4 lần, cả 4 lần Tấm lại vươn lên từ thụ động đến chủ động đấu tranh bền bỉ để chống lại cái ác.
Lần 1: Nhân lần về giỗ cha, Tấm bị mẹ con Cám sai trèo cau hái quả rồi chặt gốc cau, Tấm bị ngã xuống ao chết. Cám được đưa vào cung thế chân Tấm. Cô gái giàu lòng hiếu thảo bị mất tất cả từ hạnh phúc gia đình đến sự sống. Tấm hóa thân thành chim vàng anh bay vào vườn ngự, quấn quýt bên vua, nhắc nhở, đe dọa Cám: Giặt áo chồng tào giặt cho sạch…..tao cào mặt ra….
Lần 2: Mẹ con Cám giết chim vàng anh. Tấm hóa thân thành cây xoan đào, xòe tán như cái lọng che cho nhà vua hóng mát. Lần này Tấm tái sinh lặng lẽ tỏa bóng mát, bình yên bên vua. Nhưng cái ác không dừng lại, Mẹ con Cám chặt cây xoan đào làm khung cửi.
Lần 3: Mỗi khi mẹ con Cám ngồi dệt vải, khung cửi lại phát ra tiếng kêu: cót ca cót két lấy tranh chồng chị chị khoét mắt ra…
Lần 3 hóa thân thành khung cửi Tấm tuyên chiến mạnh mẽ hơn nêu cả nguyên nhân và hậu quả thảm hại. Nhưng sự độc ác và tham lam không dừng lại, mẹ con Cám đốt khung cửi đổ tro ra xa.  Tấm đấu tranh không thành vì sự cô độc trong cung, kẻ thù có bàn bạc, tàn nhẫn.
Lần 4: Với sức sống bất diệt Tấm hóa thân trở về với cuộc đời. Từ đống tro tàn cây thị mọc lên xanh tốt đậu một quả trên cao tít. Quả thị chọn rơi vào đúng cái bị của bà lão hang nước bên đường khi bà ao ước: thị rụng bị bà…
Đây là sự lựa chọn đứng đắn của quả thị mang linh hồn cô Tấm thảo hiền. Mỗi khi bà lão vắng nhà Tấm từ quả thị bước ra xinh đẹp như ngày nào giúp bà têm trầu bán hàng. Vua đi qua ghé hang nước bà lão và nhận ra vợ mình qua miếng trầu têm cánh phượng của Tấm năm xưa. Tấm được hoàn cung. Mẹ con Cám tự chuốc lấy cái chết.
+ Đánh giá:  Chặng 2: trước cái ác Tấm đã kiên trì bền bỉ đấu tranh. Qua 4 lần hóa thân và qua 4 lần đấu tranh từ thấp đến cao rất cam go, cuối cùng bằng ý chí và sức sống mãnh liệt Tấm đã giành lại hạnh phúc cho mình. Cái ác bị trừng trị một cách đích đáng. Tác giả dân gian muốn gửi gắm vào trang truyện một ý nghĩa nhân sinh mới mẻ. Cái ác sẽ bị trừng trị khi con người ta biết bền bỉ đấu tranh, hạnh phúc có được không giản đơn mà phải trải qua quá trình đấu tranh lâu dài không khoan nhượng.
Ý 2c – Bình luận:  Hạnh phúc của Tấm ở chặng 2 khác xa với chặng 1. Ở chặng 1, Tấm được giúp đỡ thì ở chặng 2 Tấm phải tự vươn lên kể cả khi cô độc chỉ có một mình. Nhờ sự kiên trì bền bỉ chống lại cái ác cuối cùng Tấm đã được hoàn cung.
+ Trong lịch sử đấu tranh C.Mác đã từng trả lời con gái khi hỏi: Hạnh phúc là gì? C.Mác trả lời: Hạnh phúc là đấu tranh.
+ Hiện nay: giới trẻ đồng tình với  quan niệm của triết gia: Hạnh phúc là một hành trình chứ không phải là đích đến.( Emerson)
Ý 2d-  Liên hệ: Quan niệm bản thân?
Ý3:  Khái quát lại vấn đề đã bàn trong Tấm Cấm. Đề xuất ý kiến đánh giá kết luận.

Vấn đề 2: Có ý kiến cho rằng: Hạnh phúc là đấu tranh. Qua truyện cổ tích Tấm Cám, anh (chị) cho bạn đọc biết rõ quá trình đấu tranh của Tấm để giành lại hạnh phúc như thế nào?
Gợi ý:
1 - Về vấn đề  hạnh phúc của con người trong xã hội, từ xưa tới nay có rất nhiều quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng: hạnh phúc là đấu tranh.
- Điều này tưởng như rất mới lạ, nhưng khi đọc truyện cổ tích Tấm Cám, ta đã nhận ra điều đó ngay chính từ nhân vật Tấm qua quá trình đấu tranh lâu dài và bền bỉ mà cô trải qua.
 2. 1: Giải thích quan niệm:
-  Hạnh phúc theo quan niệm thông thường, giản đơn là sự sung sướng, là những gì ta mong muốn và có được.
- Đấu tranh là sự chống lại để bảo vệ hoặc giành lấy những thứ mà mình mong muốn và có được ấy.
- Hạnh phúc là đấu tranh: Có nhiều quan niệm về hạnh phúc nhưng quan niệm trên luôn  khẳng định hạnh phúc con người có được phải qua quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ.
 2. 2. Bình luận ý kiến:
- Khái quát nhân vật Tấm:  Trong truyện cổ tích Tấm Cám, nhân vật Tấm xuất thân là một cô gái mồ côi cả cha lẫn mẹ, cô ở với dì ghẻ và người em cùng cha khác mẹ là Cám. Tấm chăm chỉ, hiền hậu, nết na nhưng bị mẹ con Cám luôn tìm cách lừa dối, hãm hại, đối sử bất công. Nhưng người ở hiền thì vẫn gặp lành. Sau mỗi lần bị đối sử bất công ấy, Tấm lại được Bụt giúp đỡ. Tấm đi dự hội, gặp vua và duyên trời định, Tấm trở thành hoàng hậu.
 -  Quá trình đấu tranh lâu dài của Tấm để giành giữ hạnh phúc: Để có hạnh phúc trọn vẹn, Tấm phải trải qua bốn lần hóa thân:
+ Lần 1: Bị mẹ con hãm hại Tấm hóa thành chim vàng anh ngày ngày quấn quýt bên vua.
+ Lần 2: Mẹ con Cám bắt chim mổ thịt. Tấm lại  hóa thân thành cây xoan đào.
+ Lần 3: Mẹ con Cám lại chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng làm khung cửi. Linh hồn cô Tấm lại hiện hình trong khung cửi, tiếp tục đấu tranh.
+ Lần 4: Mẹ con Cám mang đốt khung cửi đem tro đổ ra xa. Nơi đó, mọc lên cây thị. Tấm lại hóa thân lần nữa, ẩn mình vào quả thị. Rồi từ quả thị bước ra cuộc đời, trở về hoàng cung làm hoàng hậu.
2.3. Đánh giá ý kiến:
- Các lần hóa thân của Tấm diễn ra ngày càng quyết liệt, thể hiện quá trình đấu tranh lâu dài không khoan nhượng trước kẻ thù để tìm lại hạnh phúc  của mình.
- Quá trình đấu tranh của Tấm là minh chứng thực tế của con người từ xa xưa. Vì thế, Tấm là biểu tượng cho những người từ trong đau khổ biết  đứng lên đấu tranh giành lấy hạnh phúc, không chịu khuất phục trước cái ác, quyết tâm tiêu diệt cái ác, xóa bỏ cái ác. Thắng lợi cuối cùng của Tấm là ước mơ thấm đẫm chất nhân văn của nhân dân từ ngàn xưa.
- Quá trình đấu tranh của Tấm được tác giả dân gian khắc họa bằng sự kết hợp giữa lời kể văn xuôi với những lời ca, những hình ảnh, chi tiết kì ảo, gắn với không gian văn hóa Việt tạo sự hấp dẫn riêng cho thể loại cổ tích.
2.4.Vận dụng, liên hệ:
- Nhân vật Tấm đem đến cho ta bài học bổ ích. Muốn có hạnh phúc chúng ta phải trải qua quá trình đấu tranh không khoan nhượng trước kẻ thù, trước cái ác, trước sự bất công ngang trái.
- Trong cuộc sống, chúng ta không nên thỏa hiệp, tiếp tay cho thói hư tật xấu, run sợ trước cái ác, nhụt chí trước sự thất bại. Niềm tin và sức mạnh tự thân sẽ là yếu tố quyết định đưa chúng ta vượt qua tất cả.
- Cuộc sống là hành trình theo đuổi hạnh phúc, nhưng mọi người hãy biết theo đuổi hạnh phúc đúng nghĩa đừng để phần CON lấn át phần NGƯỜI.
3. - Đánh giá ý nghĩa nhân vật Tấm trong dấu ấn tâm hồn người Việt qua bao thế hệ con người Việt Nam.
- Khẳng định tính đúng đắn của quan niệm: Đúng như lời khuyên của Các Mác khi trả lời con gái: “Hạnh phúc là đấu tranh”.
Nhóm chuyên môn Ngữ văn


Giới hạn nội dung ôn tập kiểm tra định kỳ lần 1 môn Ngữ văn năm học 2015-2016

02:25 |

I. Các nội dung ôn tập
1.     Tiếng Việt:
-         Bài 2: Từ ngữ tiếng Việt
-         Bài 3: Ngữ pháp tiếng Việt
2.     Văn học:
2.1.          Văn học dân gian
-         Tấm Cám
-         Ca dao
-         Văn học dân gian vùng Đất Tổ
2.2.          Văn học trung đại
-         Cảm hứng yêu nước
+ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
+ Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi
+ Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi
+ Thu điếu của Nguyễn Khuyến
+ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
 II. Cấu trúc, mức độ và dạng hỏi
          1. Cấu trúc
                    - Bao gồm hai câu:
                       + Câu I (3,0 điểm): Trắc nghiệm khách quan
                       + Câu II (7,0 điểm): Làm văn
          - Thời gian: 90 phút.
2. Mức độ
                    - Kết hợp giữa các mức độ biết – hiểu – vận dụng
                   - Ưu tiên câu hỏi vận dụng, vận dụng sáng tạo
3.     Dạng hỏi
- Trắc nghiệm khách quan: chọn 1 phương án trả lời đúng trong số 4 phương án trả lời của mỗi câu hỏi.
- Đề kiểm tra tự luận quan tâm đến các dạng hỏi mở:
+ Viết đoạn văn
+ Bày tỏ ý kiến, quan điểm,…

+ Làm sáng tỏ, đánh giá  vấn đề, ý nghĩa vấn đề,… 

Hướng dẫn ôn tập văn - phần trắc nghiệm khách quan

07:16 |

PHẦN I: TRÁC NGHIỆM KHÁCH QUAN (3 điểm)

- Nội dung kiến thức: Văn học dân gina vùng Đất Tổ
1. Truyền thuyết thời kì Hùng Vương:
           Các truyền thuyết thời kì Hùng Vương gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - di sản văn hóa phi vật thể được UNESSCO công nhận ngày 6/12/2012. Bằng trí tượng tượng còn sơ khai của nhân dân, truyền thuyết thời kì này chủ yếu lí giải nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, giải thích các hiện tượng tự nhiên, các phong tục tập quán tốt đẹp và thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người. Trước hết, truyền thuyết thời kì này thể hiện niềm tự hòa về nguồn gốc cao quý của tổ tiên, phản ánh quá trình liên minh bộ lạc của những người vùng núi và vùng sông nước, miền xuôi và miền ngược, đó là mối dây liên kết đầu tiên, là tiền đề để hình thành dân tộc Việt (Lạc Long Quân - Âu Cơ). Các truyền thuyết còn  đề cao hình tượng Vua Hùng là người có công dựng nước, biết cách trị nước giúp dân(Hùng Vương chọn đất đóng đô, Thành Phong Châu, Con Voi bất nghĩa, Vua Hùng dạy dân trồng lúa, Vua Hùng đi săn…), thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên (Sơn Tinh - Thủy Tinh), lí giải các phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc như tục làm bánh chưng, bánh dày thờ cúng tổ tiên trong dịp tết (Sự tích bánh chưng, bánh dày), tục kén rể (Sơn tinh thủy tinh), ...Bên cạnh đó các truyền thuyết thời kì này còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước, khát vọng bảo về xứ sở, địa bàn cư trú của người dân Lạc Việt ( Thánh Gióng).
2. Truyện cười Văn Lang:
          Truyện cười Văn Lang - thể loại văn học dân gian rất gần gũi với đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân lao động, thể hiện tinh thần lạc quan của người dân đất Việt. Với thủ pháp cường điệu, phóng đại cùng kết cấu truyện ngắn gọn, đầy kịch tính và bất ngờ, truyện cười Văn Lang chứa đựng khá đầy đủ các cung bậc của tiếng cười và cũng hàm chứa tất cả các khía cạnh của thi pháp truyện cười.
Trước hết, tiếng cười ngợi ca sức lao động, sáng tạo và tinh thần đấy tranh chinh phục thiên nhiên, tiêu diệt các thế lực hắc ám của tự nhiên ( Độc trị độc, bắt sống trăn gió, Bóp vỡ họng gấu…), ngợi ca những sản vật phong phú của quê hương, thể hiện ước mơ về một cuộc sống đầy đủ, tốt đẹp (Quả mướp hương, Cây rau Dền, Củ sắn xuyên qua đường 24…). Bên cạnh đó, truyện cười Văn Lang còn đả kích, châm biếm trực tiếp giai cấp thống trị, phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội (Trạng Phét, Quả bí một hột,…).
3. Hát Xoan Phú Thọ: 
           Hát Xoan Phú Thọ, một thể loại dân ca mang nét đặc trưng của vùng đất Tổ, được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cầm được bảo vệ khẩn cấp ngày 24/11/2011. Hát Xoan là loại hình dân ca nghi lễ phong tục với hình thức nghệ thuật đa yếu tố (nhạc, hát, múa). Hát Xoan gắn liền với tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước lại được ra đời trên miền đất cội nguồn của dân tộc nơi có nhiều lễ hội dân gian được tổ chức hàng năm vào dịp mùa xuân, do đó nó mang đầy đủ tính chất của nền văn hoá cội nguồn và cổ xưa nhất. Hát Xoan gồm ba chặng: hát thờ (hát nghi lễ), hát quả cách và hát hội( hát giao duyên). Ở chặng hát thờ, lời Xoan mang nội dung hướng về trời đất, thánh thần để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, bội thu (Bài nhập tịch, thơ nhang, giáo trống, giáo pháo…). Không chỉ vậy, Hát Xoan còn phản ánh cuộc sống lao động của người nông dân và gắn liền với phong tục, tập quán của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Đây là yếu tố để hình thành các quả cách trong lối hát để nói về các nghề trong công nghiệp: Ngư, Tiều, Canh, Mục ( Bài Tứ mùa cách, Thuyền chèo cách, Ngư tiều canh mục cách,…). Một phần không thể thiếu khi trình diễn hát Xoan là chặng hát giao duyên. Chặng hát này đã phản ánh phong phú các khía cạnh của tình yêu, các trạng thái tình cảm của thanh niên nam nữ trong tình yêu ( Bài Gài huê, mó cá,…).


Đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp dạy học qua dự án Văn học dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

06:12 |
            Hưởng ứng chủ đề năm học và kế hoạch dạy học của tổ bộ môn Xã hội, nhóm chuyên môn Ngữ Văn triển khai dạy học dự án Văn học dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh khối C.
              Với mục đích giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức về văn học dân gian  nói chung và văn học dân gian vùng đất Tổ nói riêng, nhóm chuyên môn Ngữ Văn đã tổ chức dạy học dự án Văn học dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong ba tuần (từ ngày 9/10 đến ngày 8/11/ 2015) ở 6 lớp khối C. Đây cũng là một phần trong chương trình ngoại khóa “Tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc” do tổ bộ môn Xã hội tổ chức.
          Trong quá trình triển khai dự án, nhóm chuyên môn đã sử dụng hình thức dạy học di sản, đưa học sinh đi trải nghiệm thực tế ở khu di tích lịch sử Đền Hùng và làng Hát Xoan Kim Đức. Việc tìm hiểu, tiếp cận và trải nghiệm góp phần hướng dẫn hoạt động nhận thức, kích thích hứng thú, giúp học sinh phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức.

                                         (Hình ảnh thầy và trò tại Miếu Lãi Lèn - Kim Đức)

          Nội dung dự án gồm bốn phần kiến thức: Khái quát lịch sử, địa lí vùng Đất Tổ, tìm hiểu Truyền thuyết thời kì Hùng Vương, Truyện cười Văn Lang và Hát Xoan Phú Thọ. Ở mỗi phần kiến thức, học sinh đều thể hiện được năng lực tư duy sáng tạo trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề.

          Trước đây, học sinh đọc hiểu tác phẩm dân gian chủ yếu qua văn bản, điều này hạn chế rất nhiều khả năng tiếp cận đặc trưng thể loại của văn học dân gian, một loại hình nghệ thuật tổng hợp (hát, kể, diễn xướng). Qua trải nghiệm và tích hợp liên môn (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí), học sinh không chỉ nắm vững những đặc trưng cơ bản của thể loại truyền thuyết mà còn được bổ sung kiến thức về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - di sản văn hóa phi vật thể được UNESSCO công nhận năm 2012, phát huy khả năng sáng tạo khi sân khấu hóa một số truyền thuyết tiêu biểu như Sơn tinh - Thủy tinh, Bánh chưng bánh dày, Lạc Long Quân và Âu Cơ. Vì thời gian có hạn, không có điều kiện đến thăm mảnh đất đã sản sinh những câu chuyện cười dân gian nổi tiếng song qua đọc, tìm hiểu Tuyển tập truyện cười Văn Lang, các em đã cảm nhận sâu sắc các cung bậc của tiếng cười và những khía cạnh của thi pháp truyện cười dân gian, một thể loại thấm đượm tinh thần lạc quan, rất gần gũi với đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân lao động.
          Được chứng kiến các nghệ nhân của phường Xoan Kim Đới (Kim Đức, Việt Trì) biểu diễn những làn điệu Xoan cổ trong không gian đình làng, các thầy, cô giáo và học  sinh mới cảm nhận được hết nét đặc sắc của loại hình dân ca nghi lễ phong tục. Đặc biệt là chỉ trong một thời gian ngắn, với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của các nghệ nhân, nhiều học sinh yêu thích, say sưa tập luyện và biểu diễn những làn điệu Xoan ở phần thi Năng khiếu trong cuộc thi Tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc. Tiết mục này được Ban giám khảo đánh giá cao.

                                           ( Tiết mục tham gia thi phần năng khiếu)

          Dự án dạy học được sự hưởng ứng và tham gia của 100% giáo viên nhóm chuyên môn Ngữ văn và học sinh 6 lớp khối C. Tiết dạy tổng kết dự án ở 3 lớp K41C3(cô Trần Kim Anh). K41C2 ( Cô Hà Thị Thu Hương), K41C4 (Cô Nguyễn Phương Linh) với 3 phong cách thể hiện khác nhau nhưng đều bám sát định hướng, mục tiêu của dự án. Mỗi lớp khẳng định thế mạnh riêng ở từng sản phẩm được nghiệm thu song cảm nhận chung của các giáo viên dự giờ là sự hào hứng, sáng tạo của học sinh trong quá trình tham gia thực hiện dự án.


            Dự án Văn học dân gian vùng Đất Tổ và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ giúp học sinh củng cố, bổ sung kiến thức, rèn luyện kỹ năng hợp tác, thu thập xử lý thông tin, kỹ năng trình bày,... mà còn giáo dục ý thức bảo vệ, giữ gìn và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ. Những thành công bước đầu của dự án là nguồn động viên, khuyến khích các giáo viên nhóm chuyên môn Ngữ văn tiếp tục đổi mới cách dạy văn nhằm khơi gợi niềm vui, sự hứng thú của mỗi học sinh với môn học này./.
                                                                                               
                                                                                             Nguyễn Phương Linh - GV Ngữ Văn
Được tạo bởi Blogger.